Hơn 20 triệu tỷ đồng tín dụng đang chảy vào đâu khi NHNN siết dòng vốn rủi ro?
Hơn 20 triệu tỷ đồng tín dụng đang được nắn theo hướng ưu tiên sản xuất kinh doanh. Xuất khẩu và công nghệ cao ghi nhận tốc độ tăng vượt trội, trong khi bất động sản không còn tăng nóng như năm 2025 và SMEs trở thành nhóm cần được tiếp sức.

Tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế đã vượt 20,15 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026, tăng 8,37% so với cuối năm 2025. Trong bức tranh đó, dòng vốn đang được định hướng mạnh hơn vào sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, công nghệ cao và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi tín dụng bất động sản được kiểm soát chặt hơn.
Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số từ năm 2026, tín dụng tiếp tục được xem là một trong những động lực quan trọng để mở rộng sản xuất và đầu tư. Tuy nhiên, quy mô tín dụng ngày càng lớn cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát chất lượng dòng vốn, tránh việc tiền tập trung quá mức vào những lĩnh vực có tính đầu cơ và rủi ro cao.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chuẩn bị cho cuộc họp với Thủ tướng ngày 13/8, khoảng 77,3% tổng dư nợ hơn 20 triệu tỷ đồng đang phục vụ các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Đáng chú ý, tín dụng xuất khẩu đến cuối tháng 7 tăng 28,26% so với cuối năm 2025, trong khi tín dụng cho lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao tăng tới 38,98%, cao hơn nhiều so với mức tăng chung 8,98%.
Các chương trình tín dụng theo mục tiêu cũng ghi nhận tốc độ giải ngân đáng kể. Chương trình tín dụng phục vụ nông, lâm, thủy sản đã giải ngân lũy kế khoảng 225.577 tỷ đồng, tương đương 122% quy mô ban đầu. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, chương trình cho vay lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp cũng đã đạt khoảng 4.400 tỷ đồng.
Nếu nhìn theo cơ cấu ngành kinh tế, đến cuối tháng 6, tín dụng dành cho nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, chiếm 5,9% tổng dư nợ. Công nghiệp và xây dựng đạt 4,7 triệu tỷ đồng, chiếm 23,3%, trong khi thương mại, vận tải và viễn thông đạt 5 triệu tỷ đồng, chiếm 25%.
Phần lớn dư nợ còn lại nằm ở nhóm hoạt động dịch vụ khác, với khoảng 9,1 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 45% tổng dư nợ. Đây cũng là nhóm có tốc độ tăng tín dụng đáng chú ý nhất trong vài năm qua, khi dư nợ tăng 83% trong ba năm, tương đương bình quân hơn 27,6% mỗi năm.
Sự phân hóa càng rõ nếu đặt cạnh tốc độ tăng trưởng của từng nhóm ngành. Tính đến cuối tháng 6, tín dụng công nghiệp và xây dựng tăng 8,78%, dịch vụ khác tăng 10,83%, cao hơn mức tăng chung 8,37%; trong khi tín dụng nông nghiệp tăng 7,94% và thương mại, vận tải, viễn thông chỉ tăng 3,96%.
Điều này cho thấy bài toán của nhà điều hành hiện không còn đơn thuần là mở rộng tín dụng, mà là điều chỉnh hướng đi của dòng vốn. Những lĩnh vực tạo năng lực sản xuất mới, thúc đẩy xuất khẩu, công nghệ cao và các ngành ưu tiên đang được khuyến khích, trong khi các khu vực có nguy cơ tạo ra vòng xoáy tài sản cần được kiểm soát chặt hơn.

Trong nhóm cần được tiếp sức, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đang là điểm nghẽn đáng chú ý. Theo NHNN, dư nợ đối với SMEs hiện chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, nhưng một bộ phận doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn do quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm, phương án kinh doanh chưa đủ thuyết phục và mức độ minh bạch tài chính còn thấp.
TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni, cho rằng tín dụng vào xuất khẩu và công nghệ cao đang tăng tích cực, nhưng SMEs lại chịu sức ép lớn từ mặt bằng lãi suất cho vay. Theo ông, NHNN có thể sử dụng công cụ hỗ trợ thanh khoản có mục tiêu, gắn nguồn vốn ưu đãi với yêu cầu các ngân hàng phải giải ngân cho đúng nhóm doanh nghiệp này.
Cách tiếp cận này có thể tạo ra tác động kép: giảm chi phí vốn cho SMEs và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phục hồi, nhu cầu vốn và nhu cầu đối với các ngành dịch vụ liên quan cũng có thể được kích thích, qua đó giúp dòng tín dụng tạo ra tác động lan tỏa lớn hơn thay vì chỉ mở rộng quy mô dư nợ.
Định hướng này đang được thể hiện qua các chương trình tín dụng lãi suất thấp hơn. NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai các gói cho vay với lãi suất thấp hơn khoảng 1 điểm phần trăm đối với SMEs và các lĩnh vực ưu tiên. Big4 công bố tổng quy mô khoảng 220.000 tỷ đồng, bên cạnh các chương trình riêng của ACB, LPBank, SHB, Nam A Bank và nhiều ngân hàng khác.
Ở ACB, khách hàng SMEs hiện chiếm khoảng 30% dư nợ, với khoảng 300.000 doanh nghiệp. Tổng Giám đốc Từ Tiến Phát cho biết toàn ngành đang chung tay thúc đẩy tín dụng vào các ngành ưu tiên, đặc biệt là phân khúc SMEs, cho thấy cạnh tranh tín dụng đang dịch chuyển dần từ tăng trưởng quy mô sang lựa chọn nhóm khách hàng và lĩnh vực có khả năng tạo giá trị thực.
Ở chiều ngược lại, bất động sản là lĩnh vực đang được nhà điều hành theo dõi chặt. Cuối năm 2025, dư nợ tín dụng bất động sản đạt 4,74 triệu tỷ đồng, tăng 36,24% so với cuối năm 2024 và chiếm 25,53% tổng dư nợ toàn hệ thống. Riêng tín dụng kinh doanh bất động sản đạt 2,16 triệu tỷ đồng, tăng 49,55%.

Sang nửa đầu năm 2026, tốc độ tăng đã chậm lại đáng kể. Đến cuối tháng 6, dư nợ tín dụng bất động sản đạt khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, tăng 8,3%, gần tương đương mức tăng trưởng tín dụng chung 8,37%. Tỷ trọng bất động sản trong tổng dư nợ vẫn quanh 25,5%, trong khi nợ xấu của lĩnh vực này tăng 10,5%, cao hơn mức trung bình.
Trong nội bộ hệ thống ngân hàng, dòng vốn bất động sản cũng đang phân hóa. Thống kê từ báo cáo tài chính cho thấy 6/15 ngân hàng ghi nhận tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản giảm trong 6 tháng đầu năm, gồm Techcombank, Nam A Bank, HDBank, KienlongBank, LPBank và Saigonbank. KienlongBank là ngân hàng có mức giảm mạnh nhất, khoảng 5,5%.

Ở chiều tăng, VPBank và MB ghi nhận dư nợ kinh doanh bất động sản tăng lần lượt 42,6% và 38,2% trong 6 tháng đầu năm. PGBank, HDBank, MSB và PVcomBank cũng tăng trưởng hai chữ số. Điều này cho thấy tín dụng bất động sản chưa bị đóng lại, mà đang được phân bổ theo hướng chọn lọc hơn giữa từng ngân hàng, dự án và phân khúc.
Thông điệp từ các ngân hàng cũng đang đi theo hướng này. Vietcombank đánh giá bất động sản vẫn có nền tảng phục hồi nhờ tăng trưởng kinh tế, thu nhập cải thiện, đầu tư hạ tầng và quy hoạch đô thị, nhưng tín dụng sẽ được kiểm soát chặt đối với các phân khúc có tính đầu cơ cao. Nhu cầu ở thực được xem là động lực chính, với người mua để ở chiếm khoảng 66% giao dịch căn hộ.
Tại VPBank, dù là một trong những ngân hàng có tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản cao, định hướng vẫn là tăng trưởng có chọn lọc. Ngân hàng tập trung vào năm tiêu chí gồm đúng chủ đầu tư, vị trí, phân khúc khách hàng hoặc loại hình nhà ở, dự án và người dùng cuối; ưu tiên bất động sản khu công nghiệp, nhà ở xã hội, dự án phục vụ nhu cầu ở thực và bất động sản thương mại tại các đô thị lớn.

Nhìn tổng thể, dòng tín dụng hơn 20 triệu tỷ đồng đang được phân bổ theo một hướng rõ hơn: tăng vốn cho những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng lực sản xuất và giá trị gia tăng, đồng thời hạn chế tốc độ tăng nóng ở các khu vực tiềm ẩn rủi ro. Trong đó, SMEs đang là mắt xích cần được tháo gỡ về chi phí và khả năng tiếp cận vốn, còn bất động sản tiếp tục được mở cửa có điều kiện thay vì tăng trưởng bằng mọi giá.
Với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế, vấn đề quan trọng không còn nằm ở việc tín dụng tăng bao nhiêu, mà là mỗi đồng vốn tạo ra bao nhiêu năng lực sản xuất mới. Khi nhà điều hành chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nắn dòng vốn, chất lượng tăng trưởng tín dụng sẽ trở thành yếu tố quyết định hiệu quả của hơn 20 triệu tỷ đồng đang nằm trong nền kinh tế.
Vương Anh




















