Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 8,98% sau 7 tháng
Tín dụng toàn hệ thống tăng 8,98% sau 7 tháng, với dư nợ đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng. Trong đó, tín dụng doanh nghiệp vượt 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm hơn một nửa dư nợ toàn nền kinh tế.

Tính đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Đà tăng được duy trì nhưng thấp hơn cùng kỳ năm trước, trong khi áp lực huy động vốn tiếp tục đặt ra bài toán cân đối thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng về vấn đề tiếp cận vốn tín dụng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025.
Trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp đạt trên 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm 53,4% tổng dư nợ. So với cuối tháng 6, tốc độ tăng tín dụng tiếp tục được cải thiện, song vẫn thấp hơn mức tăng 9,64% của cùng kỳ năm 2025.
Cơ cấu tín dụng cũng cho thấy dòng vốn đang tập trung vào một số khu vực có nhu cầu vốn lớn. Theo số liệu NHNN cập nhật đến cuối tháng 6, tín dụng lĩnh vực vận tải, viễn thông tăng 14,78% so với cuối năm trước; công nghiệp tăng 9,93%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 7,94%.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh nguồn vốn huy động chịu sức ép, NHNN đã triển khai đồng thời nhiều giải pháp. Cơ quan điều hành tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng ổn định mặt bằng lãi suất, tiết giảm chi phí và đẩy mạnh chuyển đổi số.

Một thay đổi đáng chú ý khác là việc nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 50%. Quy định này có hiệu lực từ ngày 1/8/2026, qua đó tạo thêm dư địa cho các ngân hàng trong cân đối nguồn vốn và tín dụng.
Cùng với đó, NHNN cho phép không tính phần dư nợ tăng thêm đối với doanh nghiệp vay vốn cho nhà ở xã hội và bất động sản khu công nghiệp vào dư nợ tín dụng bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực này. Đây là cách tiếp cận nhằm tạo dư địa cho dòng vốn đi vào những phân khúc được ưu tiên thay vì mở rộng tín dụng bất động sản theo nghĩa rộng.
NHNN cũng đang đề xuất Thủ tướng Chính phủ các giải pháp tín dụng ưu đãi đối với doanh nghiệp phát triển nhà ở cho thuê. Với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ quan quản lý đã xây dựng chương trình tín dụng ưu đãi dành cho các lĩnh vực ưu tiên, yêu cầu các ngân hàng thương mại công bố gói tín dụng từ tháng 8/2026 với mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1 điểm % so với mức thông thường.
Những chính sách trên cho thấy bài toán tín dụng năm nay không chỉ nằm ở việc mở rộng hạn mức cho vay. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, áp lực lên nguồn vốn đầu vào sẽ lớn hơn, buộc các ngân hàng phải cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng dư nợ và chi phí vốn.
Thực tế, chính doanh nghiệp cũng đang phản ánh một nghịch lý khác của thị trường tín dụng: nhu cầu vốn vẫn lớn nhưng khả năng tiếp cận chưa thực sự thông suốt. Tại hội nghị, đại diện doanh nghiệp cho biết các điểm nghẽn tập trung vào lãi suất, điều kiện vay, tài sản bảo đảm, thủ tục và phương thức thẩm định.
Ngoài các yếu tố thuộc phạm vi ngân hàng, doanh nghiệp còn gặp vướng mắc về đất đai, đầu tư xây dựng, tài sản và thị trường. Điều này cho thấy việc giảm chi phí vốn hay mở rộng nguồn cung tín dụng mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Khả năng hấp thụ vốn còn phụ thuộc vào sức khỏe tài chính, tài sản bảo đảm và tiến độ tháo gỡ các thủ tục liên quan đến dự án.
Trong bối cảnh đó, mức tăng tín dụng 8,98% sau 7 tháng cho thấy dòng vốn vẫn đang được mở rộng với tốc độ khá cao, nhưng chặng đường phía trước sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng tăng trưởng. Khi dư nợ doanh nghiệp đã vượt 10,7 triệu tỷ đồng, yêu cầu không chỉ là đưa thêm tiền ra nền kinh tế mà còn phải bảo đảm dòng vốn đến đúng khu vực có khả năng tạo ra sản lượng và dòng tiền.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu ngành ngân hàng tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để cung ứng vốn “đúng nơi, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích và với chi phí hợp lý”. Đây cũng là thước đo quan trọng hơn của chính sách tín dụng trong những tháng cuối năm: không chỉ tăng bao nhiêu, mà dòng vốn tăng thêm thực sự đi vào đâu và tạo ra hiệu quả gì cho nền kinh tế.
Mạnh Huyền


















