Thứ sáu, 14/08/2026, 16:22 (GMT+7)

Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, bài toán nguồn vốn ngày càng căng

Tín dụng toàn hệ thống tăng 8,98% sau 7 tháng, trong khi huy động vốn chỉ tăng 5,75%, khiến chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tiếp tục kéo dài. Khi nhu cầu vốn trung, dài hạn gia tăng, áp lực cân đối nguồn vốn và thanh khoản ngày càng rõ.

image.png
Thống đốc Phạm Đức Ấn và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng tại buổi làm việc. Ảnh: NHNN.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại cuộc làm việc với Thủ tướng Lê Minh Hưng ngày 13/8, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã cao hơn huy động vốn trong nhiều năm liên tiếp. Trong giai đoạn 2021-2025, tín dụng tăng nhanh hơn huy động bình quân khoảng 3,8 điểm % mỗi năm, qua đó đưa khoảng cách giữa tín dụng và huy động vốn lên khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Năm 2025, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động vốn chỉ tăng 15,42%. Chênh lệch này cũng xuất hiện trong các năm 2021, 2022 và 2024. Riêng năm 2023, tốc độ tăng tín dụng 13,78% gần tương đương mức tăng 13,51% của huy động.

Bước sang năm 2026, khoảng cách về tốc độ đã thu hẹp còn khoảng 2 điểm %, nhưng áp lực cân đối nguồn vốn vẫn chưa giảm. Đến ngày 31/7, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư đến ngày 27/7 đạt 18.677,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,75%.

Đáng chú ý, khoảng 77,3% dư nợ nền kinh tế đang phục vụ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Điều này cho thấy phần lớn nguồn vốn tín dụng vẫn đang được sử dụng để hỗ trợ hoạt động kinh tế, nhưng đồng thời cũng khiến yêu cầu tìm kiếm nguồn vốn đầu vào cho hệ thống ngân hàng trở nên cấp thiết hơn khi nhu cầu vay tiếp tục gia tăng.

Tốc độ huy động không theo kịp tín dụng đã kéo tỷ lệ tín dụng trên huy động của hệ thống lên mức cao. Riêng tỷ lệ tín dụng trên huy động bằng VND hiện ở mức 110,6%. Điều này đồng nghĩa quy mô tín dụng bằng VND đang vượt lượng tiền gửi VND huy động, khiến các ngân hàng phải chủ động hơn trong quản trị nguồn vốn và thanh khoản.

Áp lực còn nằm ở cấu trúc kỳ hạn. Nguồn vốn trung, dài hạn hiện chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn, trong khi dư nợ tín dụng trung, dài hạn chiếm tới 48,5%. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn cuối tháng 6/2026 lên 29,2%, từ mức 28,6% cuối năm 2025.

Khoảng cách này phản ánh một thực tế: hệ thống ngân hàng đang phải dùng phần lớn nguồn vốn có kỳ hạn ngắn để đáp ứng một nhu cầu tín dụng có kỳ hạn dài hơn đáng kể. Khi tín dụng tiếp tục tăng, bài toán không chỉ là huy động thêm bao nhiêu tiền mà còn phải huy động được nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp.

Các chỉ số an toàn hiện vẫn nằm trong giới hạn. LDR của hệ thống ở mức 77,1%, thấp hơn giới hạn 85%, trong khi tỷ lệ dự trữ thanh khoản đạt 17,7%, cao hơn mức quy định 10%. Tuy nhiên, các con số này không làm mất đi áp lực dài hạn khi nhu cầu tín dụng trung, dài hạn ngày càng lớn.

Theo NHNN, nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng hiện vẫn chủ yếu đến từ tiền gửi có kỳ hạn ngắn. Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và chứng khoán chưa phát huy đầy đủ vai trò cung ứng nguồn vốn trung, dài hạn. Điều này khiến ngân hàng tiếp tục phải đảm nhận phần lớn vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Áp lực sẽ còn lớn hơn khi nhu cầu vốn cho các dự án quy mô lớn tăng mạnh. NHNN cho biết khoảng 35 dự án lớn, trọng điểm có tổng nhu cầu vốn vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng. Với nhóm dự án đầu tư trực tiếp, PPP và 5 dự án đường sắt đô thị Hà Nội cùng các dự án lớn khác, nhu cầu vốn tín dụng giai đoạn 2026-2030 được rà soát sơ bộ khoảng 2,49 triệu tỷ đồng.

Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lên khoảng 145% vào cuối năm 2025. Khi quy mô tín dụng/GDP đã ở mức cao, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ tạo thêm sức ép lên khả năng huy động, kỳ hạn nguồn vốn và quản trị rủi ro của hệ thống.

Đây là lý do phát triển thị trường vốn được đặt ra như một yêu cầu ngày càng rõ. Tại cuộc làm việc ngày 13/8, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục phát triển thị trường vốn, khơi thông nguồn lực trung và dài hạn, qua đó giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Song song với đó, NHNN đang sử dụng nhiều công cụ để tạo thêm dư địa cung ứng vốn. Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn đã được nâng từ 30% lên 40%. Một số ngân hàng tham gia cấp tín dụng cho các dự án lớn cũng được loại trừ hoặc cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng theo quy định.

Thanh khoản cũng được hỗ trợ thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ điều hành khác. Khi nhu cầu thanh khoản tăng cao, NHNN bổ sung thanh khoản VND thông qua hoán đổi ngoại tệ. Quy mô hoán đổi ngoại tệ cao nhất trong tháng 2/2026 đạt hơn 143.100 tỷ đồng, tương đương khoảng 6 tỷ USD.

Tuy nhiên, các công cụ thanh khoản chỉ giải quyết một phần bài toán. Về dài hạn, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động, hệ thống vẫn cần một cấu trúc nguồn vốn cân bằng hơn. Đặc biệt, nhu cầu vốn trung và dài hạn lớn đòi hỏi sự tham gia mạnh hơn của trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán và các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng.

Vì vậy, bài toán của hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm không đơn thuần là có thể cho vay thêm bao nhiêu. Quan trọng hơn là nguồn vốn nào sẽ tài trợ cho tốc độ tăng tín dụng đó, với kỳ hạn ra sao và mức độ an toàn như thế nào. Khi khoảng cách tín dụng - huy động đã lên khoảng 2 triệu tỷ đồng, việc giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng không còn là câu chuyện dài hạn, mà đã trở thành yêu cầu trực tiếp đối với cấu trúc vốn của nền kinh tế.

Vương Anh

Thứ sáu, 14/08/2026, 15:22 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

/ Tin liên quan

/ Nổi bật

/ Mới nhất