Thứ tư, 15/07/2026, 15:57 (GMT+7)

Việt Nam cần 1.500 tỷ USD giai đoạn 2026-2030, tín dụng chỉ đáp ứng 25-30% nhu cầu vốn

Việt Nam cần khoảng 1.500 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030 để duy trì tăng trưởng, trong khi dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng ngày càng thu hẹp. Theo Dragon Capital, thị trường vốn cần sớm đảm nhận vai trò kênh dẫn vốn dài hạn.

sXUI7iE8gOtdWvffAz3EgEwYaMny7S7mSmiyRNJJAkLiDBq1hakC_yQenZct8P3aVORsqJZBJnczX8IDqJzzfbrnqae7A3DMxMaYeEZRrhD-PNzqiUQeB9ILxHCoMxzf5H7NS47Ia0Q5kuB9spLx6ABQUv4a1G8dOloutN_AgXdnsEWPGERtquoqhevohwdL.jpg
Việt Nam cần 1.500 tỷ USD giai đoạn 2026-2030, tín dụng chỉ đáp ứng 25-30% nhu cầu vốn.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng mới, nơi bài toán không còn nằm ở việc có vốn hay không, mà là tìm nguồn vốn đủ lớn và đủ dài hạn để duy trì tốc độ phát triển. Theo bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital, mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 đồng nghĩa nền kinh tế phải duy trì tăng trưởng GDP bình quân ở mức hai con số trong nhiều năm liên tiếp.

Để đạt mục tiêu đó, tổng vốn đầu tư toàn xã hội sẽ phải tương đương khoảng 40% GDP, kéo nhu cầu vốn trong giai đoạn 2026-2030 lên khoảng 1.500 tỷ USD, cao gấp đôi giai đoạn trước. Quy mô này cũng vượt xa khả năng đáp ứng của các kênh dẫn vốn truyền thống nếu cấu trúc thị trường không thay đổi.

Theo tính toán của Dragon Capital, tín dụng ngân hàng trong 5 năm tới chỉ có thể đáp ứng khoảng 25-30% nhu cầu vốn. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI) được kỳ vọng đóng góp thêm 15-20%. Như vậy, mỗi năm nền kinh tế vẫn còn thiếu khoảng 120-150 tỷ USD, buộc phải được bù đắp thông qua thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu.

Điều đó cũng đồng nghĩa mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đang dần đi đến giới hạn. Dragon Capital cho biết tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện đã lên khoảng 146%. Dù chưa phải mức cao nhất khu vực, nếu tín dụng tiếp tục tăng trưởng 15-16% mỗi năm, Việt Nam sẽ nhanh chóng vượt nhiều nền kinh tế châu Á về chỉ tiêu này.

"Chúng ta chỉ còn khoảng 3-5 năm nữa để có thể tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng", bà Đặng Nguyệt Minh nhấn mạnh. Theo bà, khi các quy định về an toàn vốn ngày càng chặt chẽ, còn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tiếp tục giảm, chi phí vốn của nền kinh tế sẽ ngày càng cao nếu vẫn phụ thuộc vào ngân hàng.

Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital.jpg
Bà Đặng Nguyệt Minh, Giám đốc Nghiên cứu Dragon Capital.

Ở nhiều nền kinh tế phát triển, ngân hàng chủ yếu tài trợ vốn lưu động, tín dụng ngắn hạn và tiêu dùng, trong khi nhu cầu đầu tư dài hạn được chia sẻ bởi thị trường cổ phiếu và trái phiếu. Việt Nam lại đi theo hướng ngược lại khi 75-80% nhu cầu vốn vẫn do ngân hàng đáp ứng, còn thị trường vốn mới chỉ đóng góp khoảng 20-25%.

Theo Dragon Capital, vốn cổ phần là nguồn vốn dài hạn nhất bởi doanh nghiệp không phải chịu áp lực trả nợ định kỳ như vốn vay. Trong khi đó, trái phiếu giúp cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn và chu kỳ đầu tư. Khi hai kênh này phát triển đủ lớn, gánh nặng cung ứng vốn sẽ không còn dồn lên hệ thống ngân hàng.

Dù vậy, để thị trường vốn thực sự trở thành kênh dẫn vốn chủ lực, quy mô dòng tiền thôi là chưa đủ. Dragon Capital cho rằng Việt Nam đang sở hữu nhiều yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư như tăng trưởng kinh tế cao, lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện, định giá hấp dẫn, xu hướng China+1, cải cách hành chính và triển vọng nâng hạng thị trường.

Thế nhưng, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hiện chỉ còn khoảng 12% vốn hóa, giảm một nửa so với giai đoạn đỉnh năm 2016. Theo bà Đặng Nguyệt Minh, nguyên nhân không chỉ nằm ở xu hướng dịch chuyển dòng vốn toàn cầu mà còn xuất phát từ chính cấu trúc của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Hiện ngân hàng và bất động sản chiếm khoảng 63% tổng vốn hóa thị trường. Trong khi đó, các lĩnh vực được kỳ vọng dẫn dắt tăng trưởng trong tương lai như công nghệ, sản xuất và tiêu dùng vẫn có tỷ trọng khá thấp. "Nhà đầu tư rất thích câu chuyện vĩ mô của Việt Nam, nhưng khi nhìn vào thị trường thì hàng hóa để đầu tư lại chưa đủ hấp dẫn", bà Minh nhận định.

Z7Y1fOuISK0L3k2m2ss9t7VddttA3HDuA_Ro0O32FWTVEjxNo1zM3v70EUN5JTzBbPEiarWGr8xlwKa2Cl_9dNyx_iSu9YEX1FEFeN0B5cXUpIPjsDmXx_5JLps6bkgKdJK2b87akehT2EhDFCIG6rYrI1jH3ika3LP-82CBEZik_cc_EfHPA_oP1elZp6_5.jpg
Mỗi năm Việt Nam thiếu 120-150 tỷ USD cho nhu cầu đầu tư giai đoạn 2026-2030.

Theo Dragon Capital, làn sóng IPO và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có thể giúp cải thiện chất lượng hàng hóa trên thị trường trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp công nghệ cao niêm yết cũng sẽ góp phần đa dạng hóa lựa chọn của nhà đầu tư, thay vì quá tập trung vào một vài nhóm ngành lớn như hiện nay.

Tuy nhiên, ngay cả khi nguồn cung cổ phiếu được cải thiện, thị trường vẫn khó giảm biến động nếu thiếu lớp nhà đầu tư dài hạn. Đây là lý do Dragon Capital cho rằng Việt Nam không chỉ cần vốn ngoại, mà còn phải kích hoạt mạnh hơn dòng vốn trong nước.

Hiện tổng tài sản của các quỹ đầu tư nội địa mới đạt khoảng 32 tỷ USD, tương đương 6% GDP, trong đó phần lớn là quỹ trái phiếu. Đáng chú ý, các quỹ mở đầu tư cổ phiếu hiện chỉ chiếm dưới 1% giá trị vốn hóa thị trường, cho thấy quy mô của dòng vốn đầu tư dài hạn vẫn còn rất nhỏ.

Khoảng trống còn thể hiện rõ ở hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện. Sau gần 10 năm triển khai, tổng tài sản của toàn bộ hệ thống mới đạt khoảng 81 triệu USD, thấp hơn rất nhiều so với Indonesia (khoảng 21 tỷ USD) hay Ấn Độ (40-50 tỷ USD). Theo Dragon Capital, đây là dư địa rất lớn nếu Việt Nam có thêm các chính sách ưu đãi, đặc biệt là ưu đãi thuế, để khuyến khích người dân đầu tư dài hạn.

Theo bà Đặng Nguyệt Minh, điểm khác biệt giữa thị trường Việt Nam và nhiều quốc gia phát triển nằm ở cấu trúc dòng tiền. Tại nhiều nước, các quỹ đầu tư và quỹ hưu trí giải ngân định kỳ, tạo ra nguồn cầu ổn định ngay cả khi thị trường điều chỉnh. Trong khi đó, "dòng tiền vào Việt Nam chỉ mang tính chất một lần trong khi thị trường vẫn còn biến động rất cao".

Khi thiếu những dòng vốn giải ngân đều đặn, thị trường dễ trở nên nhạy cảm hơn với biến động tâm lý của nhà đầu tư ngắn hạn. Điều này không chỉ làm gia tăng biên độ dao động của giá cổ phiếu mà còn khiến thị trường vốn khó đảm nhận vai trò kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp như kỳ vọng.

Dragon Capital cho rằng Việt Nam cần đồng thời thực hiện ba nhóm giải pháp gồm nâng chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn, phát triển các quỹ đầu tư trong nước và tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách. Khi nguồn cung doanh nghiệp niêm yết được cải thiện và dòng vốn dài hạn được hình thành, thị trường chứng khoán mới có thể chia sẻ vai trò với hệ thống ngân hàng trong bài toán cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Mạnh Huyền

Thứ tư, 15/07/2026, 14:57 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

/ Tin liên quan

/ Nổi bật

/ Mới nhất