Thứ ba, 25/08/2026, 11:02 (GMT+7)

Yuanta cảnh báo: NIM ngân hàng khó duy trì đà hồi phục trong nửa cuối năm

NIM ngành ngân hàng phục hồi trong quý II/2026 nhưng theo Yuanta Việt Nam, đà cải thiện khó duy trì trong nửa cuối năm khi chi phí vốn còn cao, thanh khoản chịu áp lực và việc kéo dài kỳ hạn cho vay chỉ mang tính tạm thời.

image.png
NIM các ngân hàng.

Theo báo cáo ngành ngân hàng mới công bố, NIM toàn ngành trong quý II/2026 tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước lên 3,15%, nhưng vẫn thấp hơn 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy biên sinh lời đã có tín hiệu hồi phục, song chưa trở lại trạng thái thuận lợi như một năm trước.

Điểm đáng chú ý là NIM cải thiện không đến từ việc chi phí vốn giảm. Lợi suất tài sản toàn ngành tăng 92 điểm cơ bản lên 7,7%, nhưng chi phí vốn cũng tăng tới 105 điểm cơ bản, lên 4,79%. Nói cách khác, ngân hàng đang phải trả giá vốn cao hơn trong khi lợi suất tài sản tăng chưa đủ để tạo ra một sự cải thiện bền vững về biên lợi nhuận.

Yuanta Việt Nam cho rằng các ngân hàng đã phần nào bù đắp áp lực này bằng cách tái định giá các khoản cho vay và kéo dài kỳ hạn tín dụng. Dư nợ dài hạn hiện chiếm 33,1% tổng danh mục cho vay, tăng từ 30,4% cùng kỳ năm trước.

Việc này diễn ra trong bối cảnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn đã được nâng lên 40%, từ mức 30% trước đây. Chính sách giúp các ngân hàng có thêm dư địa sử dụng nguồn vốn hiện hữu để mở rộng tín dụng, đồng thời hỗ trợ NIM trong giai đoạn thanh khoản còn chịu áp lực.

Tuy nhiên, đây cũng là điểm khiến Yuanta Việt Nam thận trọng. Khi kỳ hạn cho vay kéo dài hơn, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro chênh lệch kỳ hạn lớn hơn, đặc biệt nếu nguồn vốn huy động không tăng tương ứng về kỳ hạn và độ ổn định.

Theo Yuanta Việt Nam, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn nên được xem như một biện pháp hỗ trợ mang tính tạm thời, thay vì một động lực tăng trưởng có thể duy trì trong dài hạn. Khi điều kiện thị trường cho phép, NHNN nhiều khả năng vẫn hướng tới giảm dần rủi ro lệch pha kỳ hạn trong hệ thống và có thể đưa tỷ lệ này trở lại mức 30%.

Điều đó đồng nghĩa với việc phần hỗ trợ NIM và tăng trưởng tín dụng đến từ thay đổi cơ cấu kỳ hạn có thể không kéo dài. Khi dư địa này thu hẹp, lợi thế thực sự của từng ngân hàng sẽ quay trở lại với khả năng huy động nguồn vốn giá rẻ, đặc biệt là tiền gửi không kỳ hạn.

CASA vì vậy tiếp tục là một trong những biến số quan trọng. Tỷ lệ CASA toàn ngành trong quý II giảm 121 điểm cơ bản so với cùng kỳ xuống 20,9%. Mức giảm mạnh được ghi nhận tại VIB, MSB, MB và Vietcombank.

image.png
Thay đổi tỷ lệ CASA trong quý 2/2026.

Dù vậy, MB, Techcombank và Vietcombank vẫn duy trì tỷ lệ CASA trên 30%, lần lượt ở mức 34,6%, 35% và 33,9%. Đây cũng là ba ngân hàng bảo vệ được NIM theo quý trong quý II/2026, cho thấy lợi thế nguồn vốn giá rẻ vẫn có ý nghĩa đáng kể trong môi trường chi phí vốn gia tăng.

Tuy nhiên, Yuanta Việt Nam lưu ý rằng câu chuyện không chỉ nằm ở tỷ lệ CASA cao hay thấp, mà còn ở tính bền vững của dòng tiền này. Khi cạnh tranh huy động gia tăng, một phần tiền gửi không kỳ hạn có thể dịch chuyển sang các sản phẩm có lãi suất cao hơn, khiến lợi thế CASA bị thu hẹp và tạo thêm áp lực lên chi phí vốn.

Nếu NIM là bài toán của phía nguồn vốn và tài sản sinh lời, chất lượng tài sản lại là biến số ở phía bên kia bảng cân đối. Trong quý II, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức 2,01%, gần như đi ngang so với 2% trong quý I và chỉ cải thiện nhẹ so với 2,05% cùng kỳ năm trước.

Bề mặt nợ xấu chưa cho thấy sự xấu đi mạnh, nhưng các chỉ báo sớm lại đáng chú ý hơn. Tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng 14 điểm cơ bản so với quý trước lên 1,38%, mức cao nhất kể từ quý II/2025. Đây là tín hiệu cho thấy một phần khoản vay đang có dấu hiệu suy giảm chất lượng trước khi chuyển thành nợ xấu thực tế.

Trong khi đó, bộ đệm dự phòng tiếp tục thu hẹp. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành giảm xuống 78,9% trong quý II, thấp hơn 59 điểm cơ bản so với quý trước và 58 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Điều này khiến khả năng chống chịu trước một chu kỳ nợ xấu mới trở thành vấn đề cần theo dõi, đặc biệt tại những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhưng mức dự phòng thấp.

Sự phân hóa giữa các ngân hàng vì vậy ngày càng rõ. Vietcombank, ACB, Techcombank và VietinBank là bốn ngân hàng duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%. Ở chiều ngược lại, Sacombank, OCB, VPBank, Eximbank và VIB đang có tỷ lệ nợ xấu cao hơn trong khi bộ đệm dự phòng mỏng hơn.

Sacombank là trường hợp đáng chú ý nhất khi tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh trong quá trình ngân hàng chủ động xử lý bảng cân đối. NPL tăng từ 2,46% quý II/2025 lên 6,41% cuối năm 2025, 6,62% trong quý I/2026 và 7,54% trong quý II/2026.

Tuy nhiên, Yuanta Việt Nam không xem đây là một cú sốc bất ngờ về chất lượng tài sản. Theo báo cáo, Sacombank đang chủ động ghi nhận chi phí dự phòng để làm sạch bảng cân đối, hướng tới hoàn tất quá trình tái cơ cấu trước đợt đấu giá 32,5% cổ phần VAMC.

Chi phí dự phòng quý II của Sacombank lên tới 5.100 tỷ đồng, so với 900 tỷ đồng cùng kỳ, qua đó khiến lợi nhuận sau thuế công ty mẹ giảm 53,5%. Việc lợi nhuận suy giảm mạnh trong ngắn hạn vì vậy được đặt trong bối cảnh ngân hàng chấp nhận tăng chi phí để xử lý các vấn đề tồn đọng.

Nếu quá trình này diễn ra đúng kế hoạch, áp lực dự phòng có thể giảm dần sau khi bảng cân đối được làm sạch, qua đó tạo nền tảng tốt hơn cho lợi nhuận trong những năm tiếp theo. Nhưng trong ngắn hạn, mức NPL cao và bộ đệm dự phòng thấp vẫn là những biến số không thể bỏ qua.

Nhìn tổng thể, bức tranh ngân hàng quý II cho thấy NIM đã có tín hiệu hồi phục nhưng chưa thể xem là một xu hướng chắc chắn. Khi chi phí vốn vẫn tăng nhanh hơn lợi suất tài sản, việc kéo dài kỳ hạn cho vay và tận dụng dư địa vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn đang giúp các ngân hàng có thêm không gian xoay xở, nhưng đồng thời cũng chuyển một phần rủi ro sang cấu trúc kỳ hạn của bảng cân đối.

Trong nửa cuối năm, bài toán của ngành vì vậy không chỉ là tăng trưởng tín dụng bao nhiêu mà còn là tăng trưởng bằng nguồn vốn nào, với kỳ hạn ra sao và chất lượng tài sản có đủ tốt để bảo vệ lợi nhuận hay không. Những ngân hàng sở hữu CASA bền vững, khả năng kiểm soát chi phí vốn tốt và bộ đệm dự phòng đủ dày sẽ có nhiều dư địa hơn để duy trì NIM khi các yếu tố hỗ trợ từ chính sách dần thu hẹp.

Với thị trường, đây cũng là giai đoạn cần nhìn sâu hơn vào chất lượng tăng trưởng thay vì chỉ nhìn vào mức tăng tín dụng hay lợi nhuận. NIM phục hồi có thể tạo lực đỡ cho lợi nhuận ngân hàng trong ngắn hạn, nhưng khả năng duy trì biên sinh lời sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào cấu trúc nguồn vốn và sức khỏe thực sự của bảng cân đối.

Vương Anh

Thứ ba, 25/08/2026, 10:02 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

Nổi bật

Mới nhất