Quốc hội chốt gần 578.000 tỷ đồng cho Vành đai 5 và đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng
Quốc hội chốt đầu tư Vành đai 5 - Vùng Thủ đô với 288.268 tỷ đồng và nâng vốn tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng lên 289.339 tỷ đồng, đưa tổng vốn hai dự án lên hơn 577.600 tỷ đồng.

Sáng 24/8, Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô và Nghị quyết điều chỉnh chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Cả hai dự án đều nhận được tỷ lệ tán thành cao, cho thấy mức độ ưu tiên lớn dành cho các công trình hạ tầng có tính kết nối vùng.
Với Vành đai 5, Quốc hội quyết định đầu tư khoảng 288.268 tỷ đồng bằng nguồn vốn đầu tư công, chia thành các dự án thành phần. Tuyến đường dài khoảng 349 km, đi qua Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ, tạo một vòng kết nối rộng quanh khu vực Vùng Thủ đô.
Trong giai đoạn 2026-2030, ngân sách Trung ương dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng cho tuyến chính cao tốc dài khoảng 116 km qua Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng và Bắc Ninh. Phần vốn còn lại được bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn và từ các nguồn vốn hợp pháp khác.
Quy mô đầu tư cho thấy Vành đai 5 không đơn thuần là một tuyến giao thông bổ sung cho Hà Nội. Khi kết nối được các địa phương công nghiệp, đô thị và logistics trong vùng, tuyến đường có thể mở rộng không gian phát triển ra ngoài khu vực lõi, đồng thời giảm áp lực lên các trục giao thông hiện hữu.
Nếu Vành đai 5 tập trung vào liên kết vùng đường bộ, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng lại mở thêm một hành lang vận tải chiến lược theo hướng Tây Bắc - đồng bằng Bắc Bộ - cảng biển. Quốc hội đã điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án lên 289.339 tỷ đồng và đặt mục tiêu hoàn thành cơ bản chậm nhất vào năm 2030.
Theo phương án được thông qua, tuyến chính dài khoảng 363 km, cùng khoảng 63 km tuyến nhánh, đi qua Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng. Điểm đầu là vị trí nối ray qua biên giới tại Lào Cai, còn điểm cuối tại ga Nam Hải Phòng, tạo trục kết nối trực tiếp giữa khu vực biên giới phía Bắc và hệ thống cảng biển.

Điểm đáng chú ý của dự án là sự điều chỉnh đồng thời về phạm vi, quy mô, công nghệ, nhu cầu đất và số dân tái định cư. Những thay đổi này kéo theo tổng mức đầu tư mới, nhưng đồng thời định hình rõ hơn năng lực khai thác của tuyến trong vận chuyển cả hành khách và hàng hóa.
Tuyến đường sử dụng khổ 1.435 mm, tốc độ thiết kế tối đa 160 km/giờ trên đoạn Lào Cai - Nam Hải Phòng. Qua khu vực đầu mối Hà Nội, tốc độ thiết kế là 120 km/giờ và các đoạn còn lại 80 km/giờ, cho phép tuyến phục vụ đồng thời nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách.
Về hạ tầng, đường đôi được đầu tư trên đoạn từ ga Bắc Hồng đến ga Nam Hải Phòng và đoạn Yên Viên - Gia Lâm, trong khi các đoạn còn lại sử dụng đường đơn. Tuyến chính và đoạn Yên Viên - Gia Lâm sử dụng sức kéo điện; các tuyến nhánh kết nối cảng biển trước mắt dùng diesel và có kế hoạch chuyển sang năng lượng sạch.
Như vậy, hai dự án tạo thành hai hướng bổ sung cho cùng một mục tiêu: tăng năng lực kết nối và vận chuyển của khu vực phía Bắc. Một bên mở rộng mạng lưới đường bộ quanh Vùng Thủ đô, bên còn lại hình thành hành lang đường sắt kết nối biên giới, các trung tâm kinh tế lớn và cảng biển.
Tổng vốn sơ bộ của hai dự án lên tới 577.607 tỷ đồng, biến giai đoạn 2026-2030 thành thời kỳ triển khai rất lớn về đầu tư hạ tầng. Khối lượng vốn này cũng đồng nghĩa yêu cầu cao về giải phóng mặt bằng, phân bổ ngân sách, tiến độ xây dựng và khả năng phối hợp giữa nhiều địa phương.
Với Vành đai 5, bài toán lớn nằm ở việc triển khai đồng bộ các dự án thành phần trên địa bàn 7 tỉnh, thành phố. Với tuyến đường sắt, thách thức còn nằm ở việc kết nối hiệu quả với mạng lưới đường sắt hiện hữu, các trung tâm logistics và hệ thống cảng biển Hải Phòng.
Giá trị của hai dự án vì thế không chỉ nằm ở tổng số vốn được Quốc hội phê duyệt. Khi hoàn thành, hiệu quả thực tế sẽ được quyết định bởi khả năng biến các tuyến giao thông thành những hành lang vận tải và phát triển kinh tế đồng bộ, qua đó khai thác tốt hơn không gian công nghiệp, đô thị và logistics của toàn vùng.
Nguyễn Huyền














