Thủ tướng yêu cầu đổi cách điều hành tín dụng: Linh hoạt room, giảm lãi suất, siết rủi ro
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu chuyển mạnh cách điều hành tiền tệ sang mô hình dựa trên dữ liệu, kịch bản và ngưỡng cảnh báo; tín dụng được linh hoạt hơn nhưng dòng vốn phải đúng địa chỉ, lãi suất hợp lý và rủi ro được kiểm soát.

Cụ thể, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước không xem room tín dụng là “trần cứng” trong mọi thời điểm, đồng thời phải xây dựng ngưỡng cảnh báo cho lạm phát, thanh khoản và tín dụng. Các ngân hàng không chấp hành yêu cầu giảm lãi suất có thể bị xử lý theo thẩm quyền.
Điểm đáng chú ý nhất trong kết luận của Thủ tướng Lê Minh Hưng sau buổi làm việc với Ngân hàng Nhà nước và 30 tổ chức tín dụng ngày 13/8 không nằm ở một chỉ tiêu tín dụng mới, mà ở cách điều hành. Chính sách tiền tệ thời gian tới sẽ phải chuyển từ cách điều hành theo những giới hạn tương đối cố định sang mô hình linh hoạt hơn, dựa trên dữ liệu, kịch bản và ngưỡng cảnh báo.
Theo Thông báo 428/TB-VPCP, Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu lượng hóa và thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Lãi suất, tỷ giá, cung tiền, thanh khoản và tín dụng phải được đặt trong các kịch bản cụ thể, đồng thời xác định ngưỡng cảnh báo để chủ động điều chỉnh thời điểm và cường độ sử dụng công cụ.
Với tín dụng, thay đổi đáng chú ý nhất là room không còn được xem như một “trần cứng” trong mọi thời điểm. Thủ tướng yêu cầu điều hành tăng trưởng tín dụng bám sát mục tiêu nhưng phải linh hoạt theo diễn biến thực tế. Nói cách khác, dư địa tín dụng có thể được điều chỉnh theo điều kiện kinh tế thay vì chỉ vận hành theo một giới hạn cố định từ đầu năm.
Tuy nhiên, đây không phải tín hiệu “mở van tín dụng” đồng loạt. Yêu cầu đi kèm là vốn phải đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng và đúng mục đích với chi phí hợp lý. Sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội và hạ tầng thiết yếu được ưu tiên; những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro vẫn phải kiểm soát chặt.
Điều này khiến chất lượng tăng trưởng tín dụng trở thành biến số quan trọng hơn tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Ngân hàng có dư địa cho vay nhưng phân bổ vốn vào các lĩnh vực rủi ro sẽ không phải là đối tượng được khuyến khích. Ngược lại, những ngân hàng có khả năng đưa vốn vào khu vực sản xuất và các động lực tăng trưởng sẽ có nhiều dư địa hơn trong cách điều hành mới.
Một điểm khác có tác động trực tiếp đến lợi nhuận ngân hàng là lãi suất cho vay. Thủ tướng yêu cầu tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất và giảm lãi suất cho vay; đồng thời yêu cầu Ngân hàng Nhà nước có biện pháp xử lý theo thẩm quyền đối với những tổ chức tín dụng không chấp hành chỉ đạo.
Như vậy, áp lực giảm lãi suất không chỉ nằm ở định hướng chung của hệ thống. Nó được chuyển thành yêu cầu về hành vi đối với từng tổ chức tín dụng. Trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn và chi phí vốn vẫn là vấn đề lớn, ngân hàng sẽ phải cân đối giữa tăng trưởng tín dụng, biên lãi ròng và yêu cầu hỗ trợ nền kinh tế.
Thanh khoản cũng được đặt vào trung tâm của cách điều hành mới. Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu tiếp tục cung ứng thanh khoản để giúp tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính phải phối hợp điều hành tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại theo từng thời điểm.
Điểm này đáng chú ý vì thanh khoản hệ thống không chỉ phụ thuộc vào hoạt động huy động - cho vay của ngân hàng. Dòng tiền Kho bạc Nhà nước cũng trở thành một biến số được yêu cầu đưa vào kịch bản điều hành. Khi dòng tiền này thay đổi, Ngân hàng Nhà nước phải có phương án điều tiết để tránh tạo cú sốc thanh khoản cho thị trường.
Ở chiều ngược lại, tỷ giá sẽ tiếp tục được điều hành theo cung - cầu ngoại tệ thay vì cố định một mức mục tiêu. Ngân hàng Nhà nước phải nắm chắc cung cầu từng thời điểm và xây dựng phương án chủ động, đồng thời nghiên cứu các sản phẩm phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho thị trường vốn và chứng khoán.
Nhưng nếu nới cách điều hành tín dụng và hỗ trợ thanh khoản, yêu cầu kiểm soát rủi ro lại được nâng lên. Ngân hàng Nhà nước phải chuyển mạnh sang cảnh báo sớm, giám sát từ sớm, từ xa, đặc biệt với các vấn đề về sở hữu, cấp tín dụng, quản lý vốn vay và các giới hạn an toàn.
Bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và chất lượng tài sản tiếp tục nằm trong nhóm rủi ro phải theo dõi chặt. Đây là điểm cho thấy chủ trương linh hoạt tín dụng không đồng nghĩa với việc nới tín dụng bất động sản hay các lĩnh vực có rủi ro cao. Dòng vốn được mở theo mục tiêu tăng trưởng, nhưng bộ lọc rủi ro vẫn phải siết.
Với các ngân hàng yếu kém, thông điệp còn rõ hơn. Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu đẩy mạnh xử lý dứt điểm các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường giám sát các ngân hàng đang kiểm soát đặc biệt và phối hợp với các cơ quan chức năng để đẩy nhanh xử lý tài sản bảo đảm của SCB.
Một điểm khác có thể tác động đến cấu trúc ngành là yêu cầu nghiên cứu lộ trình tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại Nhà nước. Nếu được triển khai, đây sẽ là cơ sở để nhóm ngân hàng này củng cố năng lực tài chính và mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, thay vì tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn huy động hiện hữu.
Ở tầng rộng hơn, Chính phủ cũng đang muốn giảm áp lực vốn trung và dài hạn lên hệ thống ngân hàng. Bộ Tài chính được giao phát triển thị trường vốn, chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp; đồng thời tiếp tục thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước gắn với niêm yết.
Điều đó cho thấy bài toán tín dụng không được giải quyết chỉ bằng cách tăng room cho ngân hàng. Một phần vốn cho tăng trưởng phải được chuyển sang các kênh dài hạn của thị trường vốn. Khi thị trường này phát triển, ngân hàng sẽ bớt phải gánh toàn bộ nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Với doanh nghiệp, thông điệp thực tế nhất là cửa tín dụng có xu hướng linh hoạt hơn nhưng tiêu chuẩn về mục đích sử dụng vốn sẽ rõ hơn. Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp và các dự án hạ tầng thuộc nhóm được ưu tiên; trong khi doanh nghiệp có phương án tài chính yếu hoặc phụ thuộc vào tài sản bảo đảm sẽ khó hưởng lợi chỉ từ việc room tín dụng được điều hành linh hoạt.
Với ngân hàng, bài toán cũng không đơn giản là “có thêm room”. Ngân hàng sẽ phải đồng thời giải ba bài toán: huy động vốn với chi phí hợp lý, giảm lãi suất cho vay và giữ chất lượng tài sản. Nếu đẩy tín dụng quá nhanh nhưng chất lượng tài sản suy giảm, chính sách linh hoạt sẽ nhanh chóng chuyển thành áp lực trích lập và vốn.
Còn với thị trường chứng khoán, có ba tín hiệu đáng theo dõi sau kết luận này: mặt bằng lãi suất cho vay, thanh khoản hệ thống và cách phân bổ room tín dụng trong những tháng cuối năm. Nếu thanh khoản được hỗ trợ, lãi suất cho vay giảm và tín dụng được phân bổ vào các động lực tăng trưởng, tác động sẽ tích cực hơn so với một con số tăng trưởng tín dụng cao nhưng chất lượng thấp.
Điểm cốt lõi của chỉ đạo lần này vì vậy không phải là “nới tín dụng”, cũng không phải một quyết định giảm lãi suất ngay lập tức. Đó là việc chuyển cách điều hành sang mô hình có kịch bản, ngưỡng cảnh báo và phản ứng chính sách nhanh hơn; đồng thời buộc dòng vốn phải đi đúng địa chỉ. Với ngân hàng và doanh nghiệp, đây mới là phần cần theo dõi trong những tháng tới.
Vương Anh











![[MoneyF Opinion] Ngân hàng Bản Việt (BVB): Tăng trưởng có thể chậm lại để tập trung làm dầy bộ đệm trích lập](https://api.moneyf.vn/image-server/20260822/249874fd56497fdb33d4eeaaef00422b.jpg)








