Khởi nghiệp từ cây sắn dây, người đàn ông Ninh Bình xây dựng mô hình doanh thu gần 3 tỷ đồng/năm
Hơn 30 năm gắn bó với cây sắn dây, quyết định thay đổi cách làm nông nghiệp
Từ cây sắn dây quen thuộc tại địa phương, ông Bùi Văn Tùng, ở phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, đã từng bước xây dựng mô hình sản xuất nông sản hữu cơ kết hợp chế biến sâu, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng. Không chỉ phát triển hoạt động kinh doanh riêng, mô hình của ông còn liên kết nhiều hộ nông dân tham gia sản xuất, góp phần mở rộng sinh kế tại khu vực ven rừng Cúc Phương.
Hành trình khởi nghiệp của ông Tùng bắt đầu từ những năm tháng gắn bó với cây sắn dây tại vùng đất Ninh Nhất. Qua hơn ba thập kỷ làm nông nghiệp, ông nhận thấy việc phụ thuộc vào phương thức canh tác truyền thống, trong đó có sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học, có thể ảnh hưởng đến chất lượng đất và khả năng phát triển lâu dài của vùng nguyên liệu.

Từ thực tế đó, ông bắt đầu tìm kiếm hướng sản xuất chú trọng chất lượng nông sản và điều kiện canh tác. Năm 2000, ông quyết định đưa cây sắn dây đến vùng đất ven rừng Cúc Phương, khu vực xã Thanh Sơn, để phát triển mô hình trồng trọt theo hướng hữu cơ.
Theo ông Tùng, điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu tại khu vực này phù hợp với việc phát triển cây sắn dây. Tuy nhiên, thay vì chú trọng tăng sản lượng bằng các biện pháp thâm canh hóa học, ông lựa chọn cải tạo đất, sử dụng nguồn dinh dưỡng hữu cơ và từng bước hoàn thiện kỹ thuật chăm sóc.
Trong quá trình sản xuất, các phụ phẩm nông nghiệp như trấu hun, bã sắn dây được phối trộn với phân vi sinh để bổ sung dinh dưỡng cho đất. Cách làm này vừa tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, vừa hướng đến giảm lượng phụ phẩm phải thải bỏ sau chế biến.
Theo thông tin từ mô hình, năng suất sắn dây có thể đạt khoảng 150–250 kg củ mỗi gốc trong những điều kiện canh tác phù hợp. Đây là mức năng suất được cơ sở ghi nhận, cho thấy tiềm năng của việc kết hợp giống cây, điều kiện đất đai và quy trình chăm sóc, song không đồng nghĩa mọi diện tích đều đạt kết quả tương tự.
Từ việc thay đổi cách trồng sắn dây, ông Tùng từng bước hình thành hướng khởi nghiệp nông nghiệp hữu cơ với mục tiêu nâng cao chất lượng nguyên liệu, chủ động quy trình sản xuất và tạo nền tảng cho hoạt động chế biến sau thu hoạch.
Không dừng lại ở việc cung cấp nguyên liệu thô, ông Bùi Văn Tùng tiếp tục phát triển hoạt động chế biến nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Đây cũng là hướng đi quan trọng của Hợp tác xã Nông sản hữu cơ Thanh Tùng NB, đơn vị gắn với mô hình sản xuất do ông xây dựng.
Các sản phẩm chủ lực của hợp tác xã gồm tinh bột sắn dây, tinh bột nghệ và một số mặt hàng nông sản chế biến khác. Thay vì chỉ sử dụng phương pháp thủ công, cơ sở đầu tư hệ thống máy móc phục vụ chế biến và sấy sản phẩm, trong đó có công nghệ sấy lạnh SASAKI.
Việc ứng dụng thiết bị giúp cơ sở chủ động hơn trong quá trình xử lý nguyên liệu, kiểm soát điều kiện sấy và duy trì tính đồng đều giữa các lô sản phẩm. Đối với những mặt hàng như tinh bột sắn dây hay tinh bột nghệ, các yếu tố về màu sắc, độ ẩm và điều kiện bảo quản có vai trò quan trọng đối với chất lượng thương mại.
Song song với đầu tư máy móc, hợp tác xã chú trọng xây dựng quy trình sản xuất và hoàn thiện các tiêu chuẩn phục vụ hoạt động kinh doanh. Theo thông tin được công bố, sản phẩm của đơn vị đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao, đồng thời cơ sở có chứng nhận ISO 22000:2018 về hệ thống quản lý an toàn thực phẩm.
Đây là những cơ sở để hợp tác xã nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và xây dựng niềm tin với người tiêu dùng. Trong đó, OCOP là chương trình đánh giá, phân hạng sản phẩm, còn ISO 22000:2018 liên quan đến hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, không đồng nghĩa với chứng nhận hữu cơ quốc tế cho toàn bộ sản phẩm.
Năm 2026, sản phẩm của hợp tác xã tiếp tục được ghi nhận trong chương trình bình chọn sản phẩm tiêu biểu của hợp tác xã. Những kết quả này góp phần tạo điều kiện để cơ sở phát triển thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Từ một loại cây trồng truyền thống, sắn dây được chế biến thành sản phẩm có bao bì, tiêu chuẩn và khả năng phân phối rộng hơn. Việc đầu tư vào khâu sau thu hoạch cũng giúp mô hình giảm phụ thuộc vào hình thức bán nguyên liệu thô, đồng thời tạo thêm giá trị trong chuỗi sản xuất nông nghiệp.
Liên kết 24 hộ dân, doanh thu gần 3 tỷ đồng mỗi năm
Bên cạnh hoạt động chế biến, mô hình khởi nghiệp của ông Bùi Văn Tùng còn chú trọng phát triển vùng nguyên liệu thông qua liên kết với người dân. Hiện hợp tác xã tổ chức sản xuất trên diện tích khoảng 13 ha, với sự tham gia của 24 hộ thành viên và hộ liên kết.
Các hộ tham gia được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây trồng theo quy trình của mô hình, đồng thời có thêm kênh tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp tác xã. Việc liên kết góp phần giảm tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, giúp cơ sở chế biến chủ động hơn về nguồn nguyên liệu và tạo điều kiện để người dân tiếp cận phương thức canh tác mới.
Một trong những hộ tham gia là gia đình ông Đinh Văn Hải tại phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Trước đây, gia đình chủ yếu trồng ngô và sắn, đầu ra phụ thuộc nhiều vào thương lái. Sau khi liên kết với hợp tác xã, ông Hải được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và tham gia chuỗi cung ứng nguyên liệu sắn dây.
Theo chia sẻ của ông Hải, mô hình liên kết giúp gia đình có đầu ra ổn định hơn và cải thiện thu nhập. Thông tin từ cơ sở cho biết các hộ tham gia có thể đạt mức thu nhập hơn 100 triệu đồng mỗi năm, tùy quy mô và hiệu quả sản xuất.

Đối với Hợp tác xã Nông sản hữu cơ Thanh Tùng NB, mỗi năm đơn vị tiêu thụ hơn 200 tấn nguyên liệu và cung ứng ra thị trường gần 30 tấn sản phẩm, gồm tinh bột sắn dây, tinh bột nghệ cùng một số mặt hàng nông sản khác. Doanh thu hằng năm đạt gần 3 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy quy mô hoạt động của mô hình đã vượt ra ngoài phạm vi sản xuất hộ gia đình. Tuy nhiên, doanh thu gần 3 tỷ đồng là tổng giá trị bán hàng của hợp tác xã, chưa phản ánh lợi nhuận sau khi trừ chi phí nguyên liệu, nhân công, thiết bị và vận hành.
Theo ông Tùng, một trong những vấn đề đáng quan tâm hiện nay là việc xây dựng niềm tin đối với sản phẩm nông nghiệp sản xuất theo hướng hữu cơ. Khi thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm cùng quảng bá yếu tố tự nhiên, sạch hoặc hữu cơ, người tiêu dùng cần có thông tin rõ ràng để phân biệt chất lượng và tiêu chuẩn của từng sản phẩm.
Vì vậy, ông mong muốn hoạt động kiểm tra, giám sát và quản lý chất lượng nông sản tiếp tục được tăng cường, qua đó tạo môi trường cạnh tranh minh bạch cho những cơ sở đầu tư nghiêm túc vào quy trình sản xuất.
Từ hơn 30 năm gắn bó với cây sắn dây đến việc xây dựng hợp tác xã có vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến và hệ thống tiêu thụ, ông Bùi Văn Tùng đã từng bước phát triển một mô hình kinh doanh nông nghiệp dựa trên chất lượng sản phẩm và liên kết sản xuất. Câu chuyện này cho thấy cơ hội khởi nghiệp tại nông thôn không chỉ nằm ở việc mở rộng diện tích canh tác mà còn đến từ đổi mới phương thức sản xuất, ứng dụng công nghệ và nâng cao giá trị nông sản địa phương.
Duy Khánh














