Tiền gửi Kho bạc Nhà nước có thể kéo giảm lãi suất, nhưng phải chờ thêm 2-3 tháng
Tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào hệ thống ngân hàng đã tăng lên khoảng 700.000 tỷ đồng, tạo thêm dư địa thanh khoản. Tuy nhiên, theo VDSC, chính sách cần 2-3 tháng để thẩm thấu trước khi tác động rõ hơn lên mặt bằng lãi suất.

Việc đưa thêm tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào cách tính LDR được kỳ vọng bổ sung nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng, qua đó giảm áp lực lãi suất. Tuy nhiên, theo VDSC, chính sách cần thêm 2-3 tháng để thẩm thấu, trong khi lãi suất dài hạn có thể mất nhiều thời gian hơn.
Theo báo cáo cập nhật vĩ mô tháng 7 của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) vào hệ thống ngân hàng đã tăng lên khoảng 700.000 tỷ đồng và dự kiến còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh thu ngân sách Nhà nước 7 tháng năm 2026 ước đạt 1.834.600 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ và hoàn thành 72,5% dự toán năm. Trong khi đó, chi ngân sách đạt khoảng 1.364.300 tỷ đồng, tăng 7,7%, tương đương 43,2% dự toán, qua đó tạo ra mức thặng dư hơn 470.000 tỷ đồng.
Theo VDSC, lượng tiền KBNN đang dồi dào tạo dư địa để điều tiết nguồn ngân sách tạm thời nhàn rỗi vào hệ thống ngân hàng. Đây được xem là một nguồn bổ sung thanh khoản đáng kể trong bối cảnh các ngân hàng vẫn chịu áp lực cân đối nguồn vốn.
Trong khoảng ba tháng gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã hai lần điều chỉnh tỷ lệ tiền gửi KBNN được tính vào LDR. Đáng chú ý, với quy định mới, 50% tiền gửi KBNN được đưa vào mẫu số tính LDR, qua đó mở rộng dư địa huy động và cho vay của các ngân hàng.
VDSC cho rằng tác động đáng chú ý nhất của thay đổi này nằm ở chi phí vốn. Khi lượng tiền KBNN được tính vào LDR tăng lên, các ngân hàng có thêm dư địa về nguồn vốn, từ đó giảm áp lực phải cạnh tranh huy động tiền gửi dân cư và tổ chức kinh tế.
Tuy nhiên, nguồn tiền này không thể lập tức chuyển thành mặt bằng lãi suất thấp hơn. Theo VDSC, chính sách cần khoảng 2-3 tháng để thẩm thấu vào hệ thống, qua đó tạo tác động rõ hơn lên lãi suất thị trường 1, đặc biệt là lãi suất cho vay ngắn hạn.

Với các kỳ hạn dài, quá trình hạ nhiệt có thể chậm hơn. Nguyên nhân là nguồn vốn dài hạn của ngân hàng vẫn phụ thuộc đáng kể vào tiền gửi kỳ hạn dài và chứng chỉ tiền gửi, nên các ngân hàng cần thêm thời gian để tự cân đối lại cơ cấu nguồn vốn.
Diễn biến thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng cũng cho thấy bức tranh không hoàn toàn giống nhau giữa các kỳ hạn. Trong tháng 7, lượng OMO lưu hành giảm từ gần 500.000 tỷ đồng xuống dưới 200.000 tỷ đồng, cho thấy mức độ hỗ trợ thanh khoản trực tiếp từ NHNN đã thu hẹp đáng kể.
Điều này đồng nghĩa hệ thống ngân hàng phải tự cân đối nguồn vốn ngắn hạn nhiều hơn. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn qua đêm, lại có xu hướng giảm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn đang cải thiện và chưa tạo ra áp lực quá lớn lên hệ thống.
Ở chiều ngược lại, khả năng NHNN mở rộng hỗ trợ thanh khoản cũng có giới hạn. Trong bối cảnh Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn vẫn duy trì lãi suất ở mức cao, việc bơm thanh khoản quá mạnh để kéo lãi suất trong nước xuống có thể làm gia tăng áp lực lên tỷ giá.
Vì vậy, theo VDSC, điều hành thanh khoản trong giai đoạn này cần cân bằng giữa hai mục tiêu: hỗ trợ mặt bằng lãi suất nhưng không tạo thêm áp lực quá lớn lên tỷ giá. Việc lựa chọn quy mô và tần suất hỗ trợ phù hợp vì thế trở thành yếu tố quan trọng.
Bên cạnh tiền tệ, VDSC cũng nhìn thấy một nguồn hỗ trợ khác đến từ chính sách tài khóa, đặc biệt là giải ngân đầu tư công. Khi vốn đầu tư công được giải ngân, dòng tiền có thể quay trở lại hệ thống ngân hàng, bổ sung thanh khoản và hỗ trợ sức cầu của nền kinh tế.
Tính đến ngày 31/7, cả nước đã giải ngân 425.312 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 41,9% kế hoạch Thủ tướng giao. So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ giải ngân tăng 3,6 điểm phần trăm, trong khi giá trị tuyệt đối cao hơn gần 86.800 tỷ đồng.

Tuy nhiên, hơn một nửa kế hoạch vốn năm 2026 vẫn phải giải ngân trong 5 tháng cuối năm. VDSC đánh giá áp lực hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% là không nhỏ, nhưng tốc độ cải thiện trong 7 tháng đầu năm cho thấy dư địa tăng tốc vẫn còn.
Nhìn tổng thể, nguồn tiền KBNN và giải ngân đầu tư công đều có thể trở thành lực đỡ cho thanh khoản hệ thống, nhưng tác động lên lãi suất sẽ có độ trễ. Vì vậy, kỳ vọng hợp lý hơn không phải là lãi suất giảm ngay sau khi chính sách thay đổi, mà là mặt bằng lãi suất có thêm dư địa hạ nhiệt trong những tháng tới khi dòng tiền thực sự đi qua hệ thống ngân hàng.
Nguyễn Huyền

















![[MoneyF Opinion] Vì sao kết quả kinh doanh Coteccons vượt kỳ vọng nhưng giá cổ phiếu vẫn lao dốc?](https://api.moneyf.vn/image-server/20260820/d40151ea66e150257d7d2dcd0c8f7970.png)

