Dragon Capital tăng mạnh tỷ trọng POW giữa lúc thị trường biến động, PV Power đang có gì mới?
Trong khi Dragon Capital nâng mạnh tỷ trọng tiền mặt và thu hẹp nhiều nhóm cổ phiếu, DCDS lại tăng hơn 5 lần lượng nắm giữ POW chỉ sau hai tháng. Động thái này diễn ra khi Nhơn Trạch 3&4 bắt đầu đóng góp rõ hơn vào PV Power.

Cụ thể, trong bối cảnh Dragon Capital nâng tỷ trọng tiền mặt và thu hẹp nhiều nhóm cổ phiếu, DCDS lại tăng mạnh lượng nắm giữ POW. Chỉ sau hai tháng, số cổ phiếu PV Power trong danh mục quỹ tăng từ 1,7 triệu lên 8,8 triệu đơn vị, đúng thời điểm Nhơn Trạch 3&4 bắt đầu đóng góp rõ hơn vào hoạt động kinh doanh.
Tại Investor Day H2.2026, ông Lê Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Dragon Capital, đánh giá 2026 là một năm đầu tư khó, với nhiều biến động khiến ngay cả những chiến lược từng hiệu quả cũng không còn phát huy như trước. Theo ông, đầu tư theo xu hướng gặp khó, trong khi cổ phiếu có tăng trưởng lợi nhuận tốt cũng chưa chắc mang lại diễn biến giá thuận lợi.
Sự thận trọng này thể hiện khá rõ trong danh mục Quỹ Đầu tư Chứng khoán Năng động DC (DCDS). Từ cuối năm 2025 đến cuối tháng 7, tỷ trọng tiền mặt của quỹ tăng từ 7,9% lên 25,2%, trong khi 10 khoản đầu tư lớn nhất giảm tỷ trọng từ 57,5% xuống 48,9%.
DCDS đồng thời thu hẹp đáng kể một số nhóm ngành. Bất động sản dân cư giảm từ 15,7% xuống 5,6% danh mục, chứng khoán từ 9% xuống 3,5% và phần mềm từ 3,2% xuống 0,5%. Ngược lại, năng lượng tăng từ 3,5% lên 4,3%, còn tiện ích từ mức gần như không đáng kể lên 3,3%.
Trong bức tranh chung đó, POW là một trong những thay đổi đáng chú ý nhất. Theo các báo cáo danh mục hàng tháng, cuối tháng 5 DCDS nắm khoảng 1,7 triệu cổ phiếu POW, trị giá hơn 23 tỷ đồng, tương đương 0,37% danh mục.
Đến cuối tháng 7, lượng nắm giữ tăng lên 8,8 triệu cổ phiếu, trị giá hơn 120 tỷ đồng và chiếm trên 2% danh mục. Như vậy, số cổ phiếu POW trong danh mục DCDS đã tăng hơn 5 lần chỉ sau hai tháng, đưa mã này vào nhóm 10 khoản đầu tư lớn nhất của quỹ.
Dragon Capital không công bố luận điểm cụ thể cho việc gia tăng tỷ trọng POW. Tuy nhiên, diễn biến này xuất hiện cùng thời điểm hoạt động của PV Power có những thay đổi đáng kể, đặc biệt sau khi cụm nhà máy Nhơn Trạch 3&4 bắt đầu vận hành thương mại và đóng góp rõ hơn vào sản lượng, doanh thu.
Sau 7 tháng, PV Power ghi nhận tổng doanh thu 38.540 tỷ đồng, tương đương khoảng 77% kế hoạch năm. Sản lượng điện đạt hơn 15,25 tỷ kWh, hoàn thành gần 71% kế hoạch cả năm, cho thấy quy mô vận hành đang tăng lên đáng kể.
Riêng tháng 7, Nhơn Trạch 3&4 mang về gần 1.634 tỷ đồng doanh thu bán điện, cao nhất trong các nhà máy của PV Power dù sản lượng phát khoảng 401 triệu kWh, thấp hơn Cà Mau 1&2 và Vũng Áng 1. Tính theo số liệu doanh nghiệp công bố, doanh thu bán điện bình quân trên mỗi kWh phát của cụm nhà máy này khoảng 4.070 đồng.

Đóng góp của Nhơn Trạch 3&4 cũng đã hình thành rõ từ nửa đầu năm. Theo Kafi, cụm nhà máy này mang về khoảng 9.317 tỷ đồng doanh thu trong 6 tháng, tương đương hơn 28% doanh thu hợp nhất PV Power.
Với công suất 1.624 MW, Nhơn Trạch 3&4 là lần mở rộng công suất đáng kể của PV Power sau gần một thập kỷ chủ yếu khai thác các nhà máy hiện hữu. Đây là thay đổi quan trọng về quy mô tài sản và công suất, đồng thời mở ra nguồn đóng góp mới cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Số liệu từ VPBankS cũng cho thấy sự thay đổi này đã phản ánh vào hoạt động quý II. Sản lượng điện của PV Power đạt 7,37 tỷ kWh, tăng 50% so với cùng kỳ, trong đó Nhơn Trạch 3&4 đóng góp 1,73 tỷ kWh; Nhơn Trạch 2, Vũng Áng 1 và Nhơn Trạch 1 lần lượt tăng sản lượng 54%, 20% và 13%.

Doanh thu quý II đạt 20.308 tỷ đồng, tăng 116%, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt 3.708 tỷ đồng, tăng 386% và là mức cao nhất theo quý kể từ khi PV Power hoạt động. Tuy nhiên, kết quả này cần được nhìn cùng với yếu tố không thường xuyên khi khoảng 1.600 tỷ đồng doanh thu hồi tố chênh lệch tỷ giá nhiều khả năng được ghi nhận trong quý.
Nếu loại khoản hồi tố trên, VPBankS ước tính lợi nhuận sau thuế quý II còn khoảng 2.108 tỷ đồng, vẫn tăng 176% so với cùng kỳ. Điều này cho thấy mức tăng trưởng không chỉ đến từ yếu tố bất thường, mà còn có sự đóng góp của sản lượng tăng tại các nhà máy hiện hữu và phần doanh thu mới từ Nhơn Trạch 3&4.
Triển vọng năm 2026 của PV Power cũng được một số công ty chứng khoán điều chỉnh theo hướng tích cực. ACBS dự báo sản lượng điện cả năm đạt khoảng 22,45 tỷ kWh, tăng 21%; doanh thu 54.739 tỷ đồng, tăng gần 60%; lợi nhuận sau thuế 7.123 tỷ đồng, tăng 137%.
ACBS cho rằng sản lượng huy động tại các nhà máy nhiệt điện có thể cải thiện nhờ nguồn cung khí trong nước tốt hơn và nhu cầu điện phục hồi. Khả năng El Niño quay trở lại cũng được đánh giá có thể hỗ trợ huy động nhiệt điện, trong khi P/E dự phóng năm 2026 của POW được ước tính khoảng 6 lần.

Tuy nhiên, công suất mới không đồng nghĩa sản lượng và lợi nhuận sẽ tăng tương ứng trong mọi thời điểm. Trong nửa đầu tháng 7, mưa tại miền Bắc khiến nền nhiệt giảm, kéo theo nhu cầu phụ tải và giá điện thị trường toàn phần thấp hơn giai đoạn tháng 3-6.
Theo PV Power, giá FMP bình quân tháng 7 dự kiến khoảng 1.250 đồng/kWh, thấp hơn chi phí biến đổi nhiên liệu khí. Trong điều kiện này, các nhà máy điện khí phải chào giá bám sát sản lượng điện hợp đồng Qc và chỉ tăng sản lượng khi hệ thống thiếu nguồn.
Nhơn Trạch 3&4 cũng kéo theo áp lực chi phí vốn khi bước sang giai đoạn vận hành. VPBankS ghi nhận chi phí lãi vay quý II của PV Power đạt 518 tỷ đồng, tăng 276% so với cùng kỳ do dư nợ tăng và chi phí vay liên quan đến hai nhà máy không còn được vốn hóa sau khi dự án đi vào hoạt động.
Giá LNG và khả năng huy động vì vậy trở thành hai biến số quan trọng đối với hiệu quả của công suất mới. Kafi lưu ý giá LNG tăng có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của Nhơn Trạch 3&4 so với các nguồn điện có chi phí thấp hơn, từ đó ảnh hưởng đến sản lượng huy động và biên lợi nhuận.
Cơ chế Qc cũng là yếu tố cần theo dõi. Đề xuất nâng tỷ lệ Qc tối thiểu của điện LNG từ 65% trong 10 năm lên 75% trong 15 năm, nếu được thông qua, có thể hỗ trợ khả năng thu hồi vốn của Nhơn Trạch 3&4. Tuy nhiên, đây vẫn là vấn đề chính sách chưa thể coi là yếu tố chắc chắn trong triển vọng kinh doanh.

Những biến số trên cũng đặt việc DCDS tăng tỷ trọng POW trong một bối cảnh rộng hơn. Dragon Capital đang duy trì lượng tiền mặt cao và giảm tỷ trọng ở nhiều nhóm ngành, trong khi năng lượng và tiện ích lại là những nhóm được nâng tỷ trọng trong danh mục.
Đáng chú ý, năng lượng là nhóm đóng góp tích cực nhất vào hiệu suất DCDS từ đầu năm đến cuối tháng 7, khoảng 0,6 điểm phần trăm, trong khi hiệu suất chung của quỹ âm 14,1%. Tuy nhiên, Dragon Capital không công bố riêng đóng góp của POW vào mức hiệu suất này.
Vì vậy, dữ liệu hiện có mới cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong danh mục DCDS, khi lượng POW nắm giữ tăng hơn 5 lần trong hai tháng. Việc tăng tỷ trọng diễn ra đồng thời với giai đoạn PV Power đưa Nhơn Trạch 3&4 vào vận hành và bắt đầu ghi nhận đóng góp rõ hơn về sản lượng, doanh thu.
Phần còn lại của câu chuyện nằm ở khả năng biến công suất mới thành dòng tiền và lợi nhuận ổn định. Sản lượng huy động, giá LNG, chi phí vốn, giá điện thị trường và cơ chế Qc sẽ quyết định mức độ mà Nhơn Trạch 3&4 có thể nâng hiệu quả kinh doanh của PV Power trong những quý tới.
Do Dragon Capital chưa công bố luận điểm cụ thể cho việc tăng tỷ trọng POW, chưa có cơ sở để khẳng định quỹ đang đặt cược vào một kịch bản tăng trưởng cụ thể của PV Power. Nhưng việc POW từ vị trí ngoài nhóm đầu tư lớn trở thành một trong 10 khoản nắm giữ lớn nhất của DCDS, trong lúc quỹ đang thận trọng với thị trường, vẫn là thay đổi đáng chú ý cần theo dõi.
Mạnh Huyền



















![[MoneyF Opinion] Vì sao kết quả kinh doanh Coteccons vượt kỳ vọng nhưng giá cổ phiếu vẫn lao dốc?](https://api.moneyf.vn/image-server/20260820/d40151ea66e150257d7d2dcd0c8f7970.png)
