Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 77/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Tiếp đó, Nghị định số 30/2026/NĐ-CP ngày 21/1/2026 của Chính phủ quy định Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập, tổ chức và hoạt động, cơ chế tài chính, vốn điều lệ của Quỹ.
Hiện Bộ Công Thương đang cùng các cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ về mô hình tổ chức, cơ chế tài chính và hồ sơ thành lập Quỹ. Theo lộ trình dự kiến, tháng 10/2026 hồ sơ sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ.

Xung quanh quá trình xây dựng chính sách và những vấn đề cốt lõi quyết định hiệu quả hoạt động của Quỹ, phóng viên đã trao đổi với ông Phạm Phan Dũng – chuyên gia tài chính, thành viên Nhóm nghiên cứu Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Cần một công cụ tài chính chuyên biệt cho tiết kiệm năng lượng
-Thưa ông, vì sao chúng ta cần thành lập một quỹ tài chính chuyên biệt cho sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả? Quá trình xây dựng chính sách và lộ trình thành lập Quỹ hiện đang được triển khai như thế nào?
Ông Phạm Phan Dũng: Trước hết phải khẳng định kết quả thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thời gian qua rất đáng khích lệ. Nhiều mục tiêu, chỉ tiêu đã được lượng hóa bằng những con số cụ thể.
Tuy nhiên, mục tiêu của Chương trình quốc gia giai đoạn 2019-2030 là phấn đấu tiết kiệm từ 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc vào năm 2030. Muốn đạt được mục tiêu này, bên cạnh các giải pháp về quản lý, công nghệ, tiêu chuẩn, kiểm toán năng lượng hay nâng cao nhận thức, chúng ta phải có những công cụ tài chính đủ mạnh để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư.
Đây chính là một trong những điểm còn hạn chế trong giai đoạn trước. Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được ban hành từ năm 2010. Các chính sách liên quan đến tín dụng, thuế, vốn, đất đai và hỗ trợ đầu tư cũng từng bước được đề cập. Tuy nhiên, khi triển khai vào thực tế, khả năng tiếp cận các ưu đãi của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.
Ví dụ, trong lĩnh vực tín dụng xanh, các ngân hàng thương mại đã được định hướng xây dựng những sản phẩm tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực xanh và tiết kiệm năng lượng. Nhưng chúng ta phải có hệ thống tiêu chí đủ cụ thể để xác định dự án nào thực sự là dự án tiết kiệm năng lượng, mức tiết kiệm bao nhiêu, hiệu quả như thế nào thì ngân hàng mới có cơ sở để đưa vốn đến doanh nghiệp.
Các chính sách thuế, đất đai cũng tương tự như vậy... những khoảng trống này cho thấy cần có một công cụ tài chính chuyên biệt. Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được kỳ vọng góp phần giải quyết vấn đề này.
Cơ sở pháp lý quan trọng là Luật số 77/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Sau đó, ngày 21/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật.
Nghị định đã quy định rõ Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thành lập, tổ chức và hoạt động, cơ chế tài chính, vốn điều lệ đối với Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.Trên cơ sở đó, quá trình chuẩn bị thành lập Quỹ đang bước vào giai đoạn rất quan trọng để đảm bảo hồ sơ sẽ trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 10/2026.
Đây là khối lượng công việc khá lớn bởi Quỹ không chỉ cần có cơ sở pháp lý mà quan trọng hơn phải xây dựng được mô hình có thể vận hành thực sự sau khi được thành lập.
Ba nhóm mục tiêu lớn
-Trong quá trình nghiên cứu mô hình, những mục tiêu hoạt động chính nào sẽ được đặt ra cho Quỹ, thưa ông?
Ông Phạm Phan Dũng: Có ba nhóm mục tiêu lớn gồm: Thứ nhất, nghiên cứu, khuyến nghị mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy quản lý và nguồn lực tài chính của Quỹ sao cho phù hợp với điều kiện pháp lý cũng như thực tiễn của Việt Nam. Thứ hai, đề xuất lộ trình triển khai thành lập Quỹ, xây dựng bố cục các dự thảo văn bản cần thiết và xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Bộ Công Thương cũng như các bộ, ngành liên quan. Thứ ba, xác định nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực cần thiết cho cơ quan trực tiếp triển khai cùng các bên liên quan trong quá trình tổ chức và vận hành Quỹ.
Chúng tôi cũng nghiên cứu kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, một số quốc gia và tham khảo các mô hình quỹ đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó có các quỹ đầu tư phát triển địa phương. Mục tiêu là lựa chọn được những yếu tố phù hợp với hệ thống pháp luật và điều kiện quản trị của Việt Nam chứ không sao chép nguyên mẫu mô hình của nước ngoài.
-Một vấn đề được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là họ sẽ được Quỹ hỗ trợ bằng cách nào, thưa ông?
Ông Phạm Phan Dũng: Đây chính là nội dung cần tiếp tục được cụ thể hóa trong quá trình xây dựng Điều lệ và cơ chế tài chính. Tinh thần chung là Quỹ phải tạo thêm một “kênh vốn” cho các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Nguồn lực của Quỹ cần hướng vào những dự án có khả năng tạo ra hiệu quả tiết kiệm năng lượng thực chất, chẳng hạn đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ; nâng cấp hệ thống sản xuất; tối ưu hóa sử dụng năng lượng; triển khai các giải pháp kỹ thuật giúp giảm suất tiêu hao năng lượng.

Điểm quan trọng là phải xây dựng được bộ tiêu chí rõ ràng, doanh nghiệp phải biết dự án nào thuộc đối tượng hỗ trợ, điều kiện tiếp cận vốn là gì, hiệu quả tiết kiệm năng lượng được xác định và kiểm chứng như thế nào.
Càng minh bạch ngay từ đầu thì doanh nghiệp càng dễ tiếp cận và Quỹ càng thuận lợi trong quản lý rủi ro.
Xây dựng bộ máy quản lý Quỹ tinh gọn
-Thưa ông, với một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, tổ chức bộ máy và quản trị vốn chắc chắn là vấn đề rất quan trọng, vậy Nhóm nghiên cứu đề xuất theo hướng nào?
Ông Phạm Phan Dũng: Nguyên tắc chúng tôi đặt ra là phải xây dựng bộ máy tinh gọn, không làm phát sinh thêm biên chế hành chính, sự nghiệp và hạn chế tăng chi ngân sách nhà nước.
Mô hình đang được nghiên cứu gồm Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát và cơ quan điều hành, qua đó phân định tương đối rõ chức năng quản lý, giám sát và tổ chức thực hiện.
Đối với những vị trí quản lý phù hợp, có thể nghiên cứu sử dụng cán bộ của Bộ Công Thương theo cơ chế kiêm nhiệm.
Nhưng có một vấn đề cần phân biệt rất rõ quản lý nhà nước về năng lượng và nghiệp vụ tín dụng là hai lĩnh vực khác nhau.





















