Ngân hàng giữ vai trò tài chính chủ lực cho các dự án điện
Tín dụng ngân hàng tiếp tục là nguồn lực tài chính chủ lực cho các dự án điện, góp phần ...
![]() |
| Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) tại Phát biểu tại Diễn đàn “Phát triển hạ tầng năng lượng thông minh” |
Nguồn vốn chủ lực cho hạ tầng điện
Phát biểu tại Diễn đàn “Phát triển hạ tầng năng lượng thông minh” do Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức ngày 24/6, ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) cho biết, nhu cầu điện năng của Việt Nam đang gia tăng nhanh cùng với đà tăng trưởng kinh tế.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,7%/năm. Để đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống dân sinh, ngành điện cần triển khai đồng bộ các dự án nguồn điện, lưới truyền tải và phân phối với quy mô đầu tư rất lớn.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2021-2030, tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn điện và lưới điện truyền tải ước khoảng 134,7 tỷ USD, trong đó nguồn điện cần khoảng 119,8 tỷ USD và lưới điện khoảng 14,9 tỷ USD. Sang giai đoạn 2031-2050, nhu cầu vốn tiếp tục tăng mạnh, dao động từ 399,2 tỷ USD đến 523,1 tỷ USD.
Không chỉ bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế, Việt Nam còn phải thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Điều này đòi hỏi nguồn lực rất lớn cho các dự án điện gió, điện mặt trời, điện khí LNG, hệ thống lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh.
Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, với đặc thù các dự án điện có quy mô vốn lớn, thời gian xây dựng kéo dài và chu kỳ thu hồi vốn dài, trong khi khả năng tự cân đối vốn của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế, tín dụng ngân hàng tiếp tục là một trong những kênh huy động vốn quan trọng nhất cho ngành điện.
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các ngành ưu tiên của nền kinh tế, trong đó có năng lượng.
Hiện nay, dư nợ tín dụng đối với ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí chiếm khoảng 3% tổng dư nợ nền kinh tế.
Thông qua việc cung ứng vốn cho các dự án trọng điểm, hệ thống ngân hàng đã góp phần mở rộng công suất nguồn điện, nâng cao năng lực truyền tải và bảo đảm vận hành ổn định của hệ thống điện quốc gia.
Nhiều dự án năng lượng lớn đã được triển khai thành công nhờ nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Đơn cử, hệ thống ngân hàng đã bố trí khoảng 17.500 tỷ đồng cho dự án Thủy điện Sơn La, tương đương khoảng 50% tổng mức đầu tư; 14.500 tỷ đồng cho dự án Thủy điện Lai Châu; 27.100 tỷ đồng cho dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 và khoảng 15.000 tỷ đồng cho dự án đường dây 500kV Quảng Trạch - Phố Nối.
Không chỉ hỗ trợ vốn trong nước, Ngân hàng Nhà nước còn hỗ trợ nguồn ngoại tệ phục vụ nhập khẩu thiết bị cho các dự án điện, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành tham mưu cơ chế đặc thù cho những công trình quan trọng như Thủy điện Sơn La hay Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Theo đánh giá của ông Nguyễn Xuân Bắc, nguồn vốn tín dụng đã góp phần quan trọng bảo đảm tiến độ các dự án điện, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh năng lượng quốc gia.
Đồng hành cùng chuyển dịch năng lượng xanh
Bên cạnh vai trò bảo đảm nguồn điện, tín dụng ngân hàng còn được xem là động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số mà Bộ Chính trị đã đề ra tại Kết luận số 18-KL/TW.
![]() |
| Diễn đàn “Phát triển hạ tầng năng lượng thông minh” |
Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, kinh nghiệm quốc tế cho thấy tăng trưởng kinh tế luôn đi cùng với nhu cầu tiêu thụ điện năng ngày càng lớn. Để đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp, trung tâm dữ liệu, ngành công nghệ cao và các lĩnh vực sản xuất hiện đại, Việt Nam cần một hệ thống điện có quy mô đủ lớn, vận hành ổn định và có năng lực dự phòng phù hợp.
Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực, giúp huy động và phân bổ nguồn lực tài chính cho các dự án hạ tầng điện. Dòng vốn này không chỉ hỗ trợ mở rộng năng lực sản xuất, truyền tải và phân phối điện mà còn tạo nền tảng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế.
Đáng chú ý, cùng với xu hướng phát triển bền vững trên toàn cầu, tín dụng ngân hàng đang trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng xanh tại Việt Nam.
Nguồn vốn tín dụng hiện được ưu tiên cho các dự án điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện khí LNG và các dự án năng lượng sạch khác. Qua đó, góp phần đa dạng hóa nguồn cung điện, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và cắt giảm phát thải khí nhà kính.
Theo số liệu được ông Nguyễn Xuân Bắc chia sẻ, dư nợ tín dụng xanh dành cho lĩnh vực năng lượng sạch hiện đạt hơn 270 nghìn tỷ đồng. Đây là minh chứng cho xu hướng dịch chuyển dòng vốn theo hướng xanh hóa và phát triển bền vững.
Các tổ chức tín dụng cũng đang từng bước lồng ghép các tiêu chí môi trường - xã hội vào hoạt động cấp tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu của các thị trường xuất khẩu lớn.
Tuy nhiên, việc huy động vốn tín dụng cho ngành điện vẫn đối mặt nhiều thách thức. Thứ nhất, các dự án nguồn điện và lưới điện thường có tổng mức đầu tư rất lớn, thời gian hoàn vốn dài, tạo áp lực lên giới hạn tín dụng cũng như tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của các ngân hàng thương mại.
Thứ hai, nhiều dự án còn gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, cơ chế giá điện và các vấn đề pháp lý liên quan, làm gia tăng rủi ro tín dụng.
Thứ ba, đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo, các cơ chế về giá mua điện, hợp đồng mua bán điện và giải tỏa công suất vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để nâng cao khả năng thu xếp vốn.
Để khơi thông nguồn lực cho hạ tầng điện, ông Nguyễn Xuân Bắc cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đồng thời xây dựng cơ chế giá điện minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân nhằm tạo môi trường đầu tư ổn định cho các tổ chức tín dụng.
Cùng với đó, cần đa dạng hóa nguồn vốn thông qua phát triển thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư hạ tầng và cơ chế hợp vốn giữa các ngân hàng thương mại đối với các dự án lớn.
Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường phối hợp liên ngành để tháo gỡ kịp thời các vướng mắc cho các dự án trọng điểm, đồng thời nâng cao năng lực tài chính, quản trị và quản lý rủi ro của các chủ đầu tư.
Theo ông Nguyễn Xuân Bắc, trong giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao ngày càng trở nên cấp thiết, ngành điện cần được ưu tiên đầu tư đi trước một bước. Trong quá trình đó, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò là một trong những nguồn lực tài chính chủ lực, góp phần xây dựng hệ thống điện hiện đại, an toàn và bền vững, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và dài hạn của nền kinh tế.
Hà Sơn





















