Nông dân xứ Nghệ làm giàu trên đất khó
Nông dân xứ Nghệ chọn trồng giống cây mới
Tại xã Bình Minh, việc chuyển đổi một phần đất lúa sang trồng cây nhân trần đang được một số hộ nông dân duy trì trong vụ hè thu. Thay vì tiếp tục gieo cấy lúa trên những chân ruộng khó chủ động nguồn nước, người dân lựa chọn loại cây có khả năng thích nghi tốt hơn với điều kiện nắng nóng.

Theo ghi nhận thực tế, nhân trần trồng trên đất lúa có chi phí đầu tư và công chăm sóc tương đối thấp, trong khi đầu ra khá ổn định. Một số hộ cho biết thu nhập từ loại cây này cao hơn so với tiếp tục trồng lúa trong cùng thời vụ.
Việc thay đổi cây trồng có ý nghĩa đối với xã Bình Minh, địa phương có hơn 1.500 ha đất sản xuất lúa hai vụ. Trong vụ hè thu năm 2026, chính quyền xã từng dự báo hơn 200 ha có nguy cơ thiếu nước tưới, chủ yếu nằm ở những chân ruộng cao hoặc cuối hệ thống kênh mương.
Trước thực tế đó, địa phương khuyến khích người dân chỉ gieo cấy lúa tại những khu vực bảo đảm nguồn nước, đồng thời chuyển diện tích khó khăn sang các loại cây trồng cạn phù hợp.
Không chỉ ở vùng đồng ruộng, việc thay đổi cây trồng cũng diễn ra tại các khu vực gò đồi. Ở các xã Tân An và Đại Đồng, một số hộ đang chuyển diện tích từng trồng keo, sắn hoặc cây trồng có hiệu quả thấp sang trồng dứa Queen.
Khác với những loại cây ngắn ngày, dứa Queen đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn và thời gian chăm sóc kéo dài. Người trồng phải cải tạo đất, lên luống, bố trí hệ thống thoát nước và sử dụng màng phủ để hạn chế cỏ dại, duy trì độ ẩm.
Theo khảo sát được công bố tại xã Tân An đầu năm 2026, chi phí đầu tư một hecta dứa ước khoảng 220 triệu đồng. Sau khoảng 18 tháng, năng suất dự tính đạt 50–60 tấn quả, doanh thu có thể trên 500 triệu đồng và lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng/ha.
Đến cuối tháng 2/2026, toàn tỉnh có 39 xã đăng ký phát triển dứa với tổng diện tích hơn 1.130 ha. Trong đó, Tân An đăng ký khoảng 70 ha, còn Giai Xuân dự kiến khoảng 300 ha. Hoạt động sản xuất được định hướng gắn với doanh nghiệp chế biến, từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung.
Ứng dụng kỹ thuật để giảm chi phí, chủ động nguồn nước sản xuất
Bên cạnh việc lựa chọn cây trồng phù hợp, nông dân Nghệ An còn tìm cách giảm những khoản chi phí phát sinh từ tưới nước, bón phân và sử dụng lao động.
Tại xã Hưng Nguyên Nam, một mô hình sản xuất trên 7 ha đất bãi đã đầu tư gần 500 triệu đồng cho hệ thống tưới nhỏ giọt và phun sương đồng bộ. Hệ thống gồm trạm bơm, bộ lọc và đường ống dẫn nước đến từng khu vực canh tác.
Nhờ cơ giới hóa khâu tưới, chỉ cần một lao động vận hành trong khoảng một giờ để cung cấp nước cho toàn bộ diện tích. Phân bón cũng được hòa vào hệ thống tưới, thay cho phương thức bón thủ công.
Theo ghi nhận tại mô hình, việc kết hợp tưới và bón phân giúp tiết kiệm khoảng 10 triệu đồng mỗi lần bón. Với chu kỳ 7–8 lần bón phân, khoản chi phí lao động giảm đi tương đối lớn so với phương pháp trước đây.
Tại xã Quang Đông, hệ thống tưới nhỏ giọt cũng được ứng dụng trên một trang trại cam VietGAP rộng 8 ha. Theo phản ánh của hộ sản xuất, phương thức này giúp tiết kiệm hơn một nửa lượng nước so với tưới thủ công, đồng thời đưa phân bón trực tiếp đến vùng rễ cây.
Những thay đổi trong sản xuất diễn ra khi Nghệ An phải đối mặt với áp lực thiếu nước vào mùa khô. Theo đánh giá của ngành nông nghiệp vào tháng 5/2026, khoảng 4.000 ha đất lúa trên địa bàn tỉnh có nguy cơ thiếu nước tưới trong vụ hè thu, cần tính toán chuyển đổi sang cây trồng khác.
Đối với những diện tích không bảo đảm điều kiện gieo cấy, ngành chuyên môn định hướng phát triển các loại cây trồng cạn, ngắn ngày như ngô, lạc, rau màu, dưa hấu, bí và dưa chuột. Việc lựa chọn phụ thuộc vào nguồn nước, đất đai và điều kiện sản xuất của từng khu vực.
Từ chuyển đất lúa sang trồng cây dược liệu, phát triển dứa trên vùng đồi đến đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm, các mô hình tại Nghệ An đang cho thấy những cách tiếp cận khác nhau nhằm nâng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Nguyễn Huyền














