Cổ phần hóa trước cơ hội bứt tốc, tạo sóng thị trường vốn
Sau giai đoạn trầm lắng, hoạt động IPO, cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước đang xuất hiện những tín hiệu tích cực trở lại. Dư địa thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp lớn có thể tạo lực đẩy mới cho thị trường vốn giai đoạn 2026-2030.
Cổ phần hóa tạo nguồn lực phát triển
Theo phân tích của Công ty Chứng khoán BIDV (BSC), hoạt động IPO, cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước đang có dấu hiệu sôi động trở lại sau một thời gian dài chững lại.
Động lực cho xu hướng này đến từ nhu cầu huy động nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế, đồng thời tái phân bổ phần vốn nhà nước theo hướng tập trung vào những lĩnh vực chiến lược.
Trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD, tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP và tổng vốn đầu tư toàn xã hội tương đương khoảng 40% GDP.
Cùng với đó, vốn đầu tư công dự kiến đạt 8,31 triệu tỷ đồng, trong khi tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 16,1 triệu tỷ đồng và tổng chi khoảng 20,9 triệu tỷ đồng. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho tăng trưởng và đầu tư hạ tầng ở mức cao, việc cơ cấu lại danh mục vốn nhà nước có thể trở thành một nguồn lực đáng kể cho nền kinh tế.
Dư địa thoái vốn vẫn rất lớn
Quá trình cổ phần hóa đã làm thay đổi đáng kể quy mô khu vực doanh nghiệp nhà nước. Số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước giảm mạnh từ 5.655 doanh nghiệp năm 2001 xuống còn 459 doanh nghiệp vào năm 2021. Từ Đại hội XI, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được xác định là một trong ba trọng tâm của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, cùng với đầu tư công và hệ thống ngân hàng, tài chính.
Tuy nhiên, dư địa để tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước vẫn còn lớn, đặc biệt tại các doanh nghiệp niêm yết quy mô lớn. Theo BSC, Nhà nước hiện vẫn nắm 95,4% vốn tại ACV, 95,8% tại GAS, 96,8% tại GVR, 92,1% tại BSR và tới 99,5% tại VIMC. Tỷ lệ sở hữu tại PLX là 75,9%, POW: 79,9%, PGV: 99,2% và KSV: 98,1%. Trong lĩnh vực ngân hàng, tỷ lệ sở hữu nhà nước tại Vietcombank và BIDV lần lượt ở mức 74,8% và 79,6%.

Những tỷ lệ sở hữu cao này cho thấy dư địa thoái vốn và cơ cấu lại danh mục đầu tư của Nhà nước tại nhiều doanh nghiệp vẫn còn đáng kể. Nếu được triển khai theo lộ trình phù hợp, quá trình này vừa có thể bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế, vừa mở rộng lượng cổ phiếu lưu hành và tăng thanh khoản trên thị trường chứng khoán.
Không chỉ nằm ở các doanh nghiệp đang có tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao, dư địa của thị trường còn đến từ nhóm doanh nghiệp có nguồn gốc nhà nước chưa hoàn tất quá trình niêm yết hoặc chưa đáp ứng các điều kiện về cơ cấu cổ đông.
Theo số liệu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, thị trường hiện có khoảng 789 công ty đại chúng có nguồn gốc từ doanh nghiệp Nhà nước.
Trong số này, 67 công ty chưa đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông do tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng thấp; 53 công ty chưa đáp ứng điều kiện về vốn điều lệ tối thiểu và 41 công ty chưa thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch. Đây là nguồn cung tiềm năng đáng kể nếu các doanh nghiệp từng bước hoàn thiện điều kiện để đưa cổ phiếu lên thị trường.
Một trong những giải pháp được đặt ra là cổ đông lớn, đặc biệt là Nhà nước, tiếp tục chuyển nhượng một phần vốn sở hữu. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng có thể phát hành thêm cổ phiếu nhằm tăng vốn và cải thiện tỷ lệ free-float. Nếu được triển khai đồng bộ, quá trình này vừa giúp tăng quy mô thị trường chứng khoán, vừa tạo thêm cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.
347.000 tỷ đồng qua hơn 1.200 đợt đấu giá
Lịch sử thị trường cho thấy cổ phần hóa và thoái vốn từng tạo ra những dòng tiền rất lớn. Theo dữ liệu BSC, từ năm 2005 đến quý II/2026, HOSE và HNX đã ghi nhận 1.223 đợt đấu giá thành công, với tổng giá trị khoảng 347.248 tỷ đồng. Trong đó, HOSE chiếm hơn 244.343 tỷ đồng, còn HNX đạt khoảng 102.905 tỷ đồng.
Giai đoạn sôi động nhất diễn ra trong những năm 2006-2008 và 2014-2018. Riêng năm 2017, tổng giá trị đấu giá thành công đạt khoảng 128.008 tỷ đồng. Một số thương vụ cổ phần hóa lớn từng tạo dấu ấn trên thị trường gồm Vietcombank với giá trị 10.516 tỷ đồng, Đạm Phú Mỹ gần 6.997 tỷ đồng, PV Power 6.996 tỷ đồng, Lọc hóa dầu Bình Sơn 5.566 tỷ đồng và Sabeco 5.485 tỷ đồng.
Ở chiều thoái vốn, thương vụ Bộ Công thương bán vốn tại Sabeco cho ThaiBev vào tháng 12/2017 đạt giá trị tới 109.972 tỷ đồng. Đây được xem là một trong những thương vụ lớn nhất lịch sử thoái vốn nhà nước và chiếm khoảng 47% tổng giá trị thoái vốn kể từ năm 2005.
Bên cạnh đó còn có các thương vụ SCIC thoái vốn tại Vinamilk và Vinaconex với giá trị hàng nghìn tỷ đồng.
Chính sách tạo thêm lực đẩy
Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh, hoạt động IPO và cổ phần hóa suy giảm đáng kể trong những năm sau 2018. Theo BSC, trong làn sóng đầu tiên giai đoạn 2006-2009, có 71 doanh nghiệp thực hiện IPO với tổng giá trị khoảng 40.829 tỷ đồng.
Đến giai đoạn 2016-2018, quy mô tăng lên khoảng 120 doanh nghiệp, với tổng giá trị khoảng 117.388 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2019-2024, thị trường chỉ ghi nhận 37 doanh nghiệp IPO, với tổng giá trị khoảng 6.567 tỷ đồng.
Đáng chú ý, xu hướng bắt đầu thay đổi từ năm 2025. Có 8 doanh nghiệp thực hiện IPO với tổng quy mô khoảng 57.346 tỷ đồng, trong đó xuất hiện những cái tên đáng chú ý như: Điện Máy Xanh, Chứng khoán VPBank, VPS, TCBS, Chứng khoán LPBank và Hạ tầng Gelex.
Mức tăng này khiến giới phân tích đặt kỳ vọng thị trường có thể đang bước vào “làn sóng thứ ba” của IPO, cổ phần hóa và niêm yết.
Một loạt thay đổi về chính sách đang được xem là yếu tố hỗ trợ cho quá trình này. Theo BSC, việc sửa đổi Nghị định 155/2020/NĐ-CP theo hướng rút ngắn thời gian IPO và niêm yết có thể giúp giảm thời gian đưa doanh nghiệp lên thị trường.
Cùng với đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng được kỳ vọng cải thiện khả năng thu hút dòng vốn quốc tế, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các thương vụ IPO và thoái vốn quy mô lớn.
Đáng chú ý, ngày 5/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 40/2026/QĐ-TTg, quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn Nhà nước.
Theo đánh giá của BSC, đây là một trong những cơ sở quan trọng cho quá trình cơ cấu lại vốn nhà nước giai đoạn 2026-2030, theo hướng xác định rõ những lĩnh vực Nhà nước cần duy trì tỷ lệ sở hữu cao và những lĩnh vực có thể tiếp tục giảm vốn.
Trúc Lan



















