Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, lãi suất tiết kiệm khó giảm sâu
Hơn 20 ngân hàng đã giảm lãi suất huy động theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, nhưng chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn lớn, trong khi áp lực lạm phát hạn chế dư địa giảm lãi suất.
Mặt bằng lãi suất huy động đang chịu sức ép điều chỉnh giảm theo chỉ đạo của cơ quan quản lý. Tuy nhiên, khi nhu cầu vốn tăng cao vào những tháng cuối năm, tốc độ huy động chưa theo kịp tín dụng và chi phí vốn vẫn là vấn đề cần cân đối, khả năng giảm sâu lãi suất tiết kiệm còn hạn chế.
Theo thống kê đến cuối tuần qua, hơn 20 ngân hàng thương mại đã công bố giảm lãi suất huy động, phổ biến ở mức 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Một số ngân hàng đồng thời điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các nhóm khách hàng ưu tiên.

Việc giảm lãi suất được đặt ra nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi hoạt động, giảm chi phí tài chính và hạn chế nguy cơ suy giảm khả năng trả nợ. Tuy nhiên, các ngân hàng cũng phải tính toán khả năng cân đối nguồn vốn, bởi giảm lãi suất cho vay trong khi chi phí huy động còn cao có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank, cho biết khó khăn lớn hiện nay là giảm lãi suất đầu vào nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của người gửi tiền. Nếu điều chỉnh không hợp lý, chính sách có thể tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng.
Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm 0,5%/năm lãi suất tiền gửi đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, không chạy đua tăng lãi suất huy động; đồng thời giảm 1,5-2%/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Cơ quan quản lý cũng đưa ra các biện pháp xử lý đối với những tổ chức tín dụng không tuân thủ, bao gồm giảm hạn mức tăng trưởng tín dụng trong những tháng còn lại của năm 2026, giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thấp hơn trong năm 2027 và áp dụng một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn mức quy định.
Chênh lệch huy động và tín dụng vẫn ở mức cao
Theo Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), lãi suất huy động có thể giảm nhanh trong ngắn hạn và ổn định đến cuối năm 2026, nhưng khó giảm sâu trong năm 2027 do chênh lệch giữa huy động vốn và tín dụng vẫn lớn.
Số liệu đến ngày 14/10/2026 cho thấy tăng trưởng huy động vốn đạt 11,22%, trong khi tăng trưởng tín dụng đạt 11,44%. Chênh lệch quy mô huy động và tín dụng đã thu hẹp từ mức đỉnh khoảng 2,8 triệu tỷ đồng hồi giữa năm xuống còn 2,35 triệu tỷ đồng.
Dù đã giảm đáng kể so với mức đỉnh, khoảng cách này vẫn tương đương mức đầu năm 2026 và cao gấp đôi so với đầu năm 2025. Đây tiếp tục là yếu tố gây sức ép lên khả năng cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, nhất là khi nhu cầu vay vốn thường tăng vào giai đoạn cao điểm kinh doanh cuối năm.
TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, cũng nhận định mặt bằng lãi suất đang chịu áp lực từ sự mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và tốc độ huy động vốn. Khi dư nợ cho vay tăng nhanh hơn tiền gửi, ngân hàng phải tìm kiếm thêm nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng, đồng thời đối mặt với sức ép về chi phí đầu vào.
Diễn biến tại một số ngân hàng trong năm 2026 cho thấy tốc độ tăng trưởng huy động chưa đồng đều và có trường hợp thấp hơn tăng trưởng tín dụng.
Tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB), đến ngày 30/9/2026, tổng tài sản đạt hơn 145.200 tỷ đồng, tăng 9,2% so với đầu năm. Dư nợ tín dụng đạt hơn 85.540 tỷ đồng, tăng 9,3%, trong khi tổng huy động đạt hơn 134.000 tỷ đồng, tăng 8,7%.
Như vậy, tăng trưởng tín dụng của VIB cao hơn tăng trưởng huy động 0,6 điểm phần trăm. Chênh lệch này cho thấy dư nợ tín dụng đang tăng nhanh hơn nguồn huy động được công bố, dù cần xem xét thêm cơ cấu nguồn vốn và các khoản mục tài sản, nguồn vốn khác để đánh giá đầy đủ khả năng cân đối vốn.
Tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (Saigonbank), số liệu đến ngày 30/6/2026 ghi nhận tổng tài sản đạt 35.373 tỷ đồng, gần tương đương cuối năm 2025. Cho vay khách hàng ở mức 21.754 tỷ đồng, giảm nhẹ so với 21.972 tỷ đồng cuối năm trước. Tiền gửi khách hàng cũng giảm từ 26.326 tỷ đồng xuống 25.171 tỷ đồng.
Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank) ghi nhận tổng tài sản đạt 92.637 tỷ đồng tại ngày 30/9/2026, tăng 4,3% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay khách hàng tăng khoảng 7,1%, còn tiền gửi khách hàng tăng 5,8% so với cuối năm trước.
Tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), tổng tài sản đạt khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ. Dư nợ tại ngân hàng riêng lẻ tăng 16,3% so với đầu năm, trong khi tiền gửi khách hàng đạt 692.100 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ và 4% so với đầu năm.
Các số liệu trên phản ánh sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động giữa các ngân hàng. Áp lực cân đối vốn cụ thể còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các nguồn huy động khác, cơ cấu kỳ hạn tiền gửi và việc quản lý tài sản, nguồn vốn của từng tổ chức tín dụng.
Lạm phát hạn chế dư địa giảm lãi suất
Bên cạnh nhu cầu huy động vốn, lạm phát cũng là yếu tố khiến việc giảm lãi suất cần được cân nhắc thận trọng.
Theo thông tin được Ngân hàng Nhà nước đưa ra, lạm phát bình quân năm 2026 được dự báo ở mức 4,5-5%, sát cận trên mục tiêu kiểm soát của Quốc hội. Trong khi đó, CPI bình quân 9 tháng đầu năm tăng 4,52% so với cùng kỳ.
Diễn biến giá cả khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ bị thu hẹp. Nếu lãi suất giảm nhanh trong khi áp lực lạm phát vẫn cao, việc đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát giá cả và ổn định tỷ giá sẽ trở nên khó khăn hơn.
Để kéo giảm lãi suất cho vay, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động, chia sẻ lợi nhuận và giảm chi phí huy động vốn.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh việc giảm lãi suất cho vay không thực hiện cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng, tập trung vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Chính sách cần được xem xét đối với cả dư nợ hiện hữu và khoản vay mới, giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng tài chính và có thêm nguồn lực phục vụ hoạt động kinh doanh.
Cùng với đó, các ngân hàng phải đẩy mạnh huy động vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế, nhưng không được cạnh tranh thiếu lành mạnh, huy động chéo hoặc giành giật khách hàng của nhau.
Về phía doanh nghiệp, cơ quan quản lý khuyến nghị chủ động đa dạng hóa nguồn vốn, kết hợp tín dụng ngân hàng với các nguồn vốn hợp pháp khác để giảm phụ thuộc vào một kênh tài trợ. Định hướng này đặc biệt có ý nghĩa với các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn như bất động sản.
Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng lưu ý ngành ngân hàng và doanh nghiệp cần hướng đến mô hình phát triển bất động sản bền vững, hạn chế đầu cơ, thao túng và đẩy giá nhà đất. Việc dòng vốn tín dụng tập trung quá mức vào những hoạt động mang tính đầu cơ có thể gây hệ lụy đối với tăng trưởng kinh tế.
Trong ngắn hạn, việc các ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động theo chỉ đạo có thể giúp mặt bằng lãi suất giảm. Tuy nhiên, khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn, nhu cầu vốn cao vào cuối năm cùng áp lực lạm phát khiến khả năng giảm sâu lãi suất tiết kiệm vẫn bị giới hạn. Diễn biến trong năm 2027 sẽ phụ thuộc đáng kể vào khả năng cải thiện nguồn vốn huy động và dư địa điều hành chính sách tiền tệ.
Long Giang















