Phó Chủ tịch UBCKNN chỉ ra 5 vướng mắc khiến doanh nghiệp FDI chưa thể lên sàn
Dù Luật Chứng khoán không phân biệt doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhiều doanh nghiệp FDI vẫn chưa thể niêm yết do vướng các cam kết đầu tư và hợp đồng đã ký khi triển khai hoạt động tại Việt Nam.
Phát biểu tại Hội thảo "Lộ trình niêm yết cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam" diễn ra sáng 28/7 do Công ty Chứng khoán SSI phối hợp cùng Daiwa Securities Group tổ chức, ông Hoàng Văn Thu, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), cho biết khu vực doanh nghiệp FDI được kỳ vọng sẽ trở thành nguồn cung hàng hóa chất lượng cho thị trường chứng khoán, bên cạnh vai trò đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp FDI hiện diện trên thị trường chứng khoán vẫn khá khiêm tốn so với quy mô của khu vực này.
Không có rào cản từ Luật Chứng khoán
Theo ông Hoàng Văn Thu, trong giai đoạn 2003-2014 từng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc cho phép doanh nghiệp FDI niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đến năm 2014, khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư được sửa đổi, cách tiếp cận đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài đã có sự thay đổi đáng kể.
Giai đoạn 2014-2020, Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu cơ chế đưa doanh nghiệp FDI tham gia thị trường chứng khoán. Đến năm 2025, vấn đề được báo cáo Thủ tướng Chính phủ và nhận được sự đồng thuận về chủ trương.
Theo lãnh đạo UBCKNN, các quy định của pháp luật chứng khoán hiện hành không phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này phù hợp với chủ trương coi khu vực FDI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, việc không có rào cản từ Luật Chứng khoán không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp FDI đều có thể ngay lập tức niêm yết.

5 nhóm vướng mắc cần tháo gỡ
“Có 5 trường hợp đang còn các điều kiện cam kết hoặc là phải gỡ bỏ, giải thoát được các điều kiện này thì chúng ta mới tham gia được thị trường chứng khoán, một trong những thị trường có lợi ích công chúng”, ông Thu nói.
Thứ nhất, doanh nghiệp còn các cam kết gắn với quá trình cấp phép đầu tư, ưu đãi thuế hoặc nghĩa vụ với chính quyền địa phương. Theo lãnh đạo UBCKNN, một số doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tư nhưng đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ, cam kết nhất định. Các ràng buộc này cần được xử lý hoặc hoàn thành trước khi doanh nghiệp bước lên thị trường.
Thứ hai, doanh nghiệp thực hiện dự án theo phương thức đối tác công - tư (PPP). Đây là nhóm chịu những ràng buộc riêng gắn với cơ chế đầu tư và các cam kết trong quá trình triển khai dự án.
Thứ ba, doanh nghiệp đầu tư trong các lĩnh vực chịu sự ràng buộc bởi cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tùy từng lĩnh vực, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện tương ứng trước khi tham gia thị trường chứng khoán.
Thứ tư, doanh nghiệp thực hiện dự án mà khi hết thời hạn đầu tư phải bàn giao không bồi hoàn cho Chính phủ Việt Nam. Đây là nhóm có những đặc thù về dự án và tài sản cần được xem xét khi doanh nghiệp muốn bước lên thị trường.
Thứ năm, doanh nghiệp thực hiện dự án thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Các dự án này thường đi kèm những điều kiện, cam kết cụ thể, trong đó đáng chú ý là ràng buộc về chuyển nhượng vốn.
“Đặc biệt nhất là các ràng buộc về việc chuyển nhượng vốn của nhà đầu tư cho các nhà đầu tư khác”, Phó Chủ tịch UBCKNN nói và lưu ý các doanh nghiệp, đơn vị tư vấn cho khối FDI có kế hoạch tham gia thị trường chứng khoán cần đặc biệt chú ý 5 nhóm trường hợp trên.
Như vậy, “nút thắt” đối với doanh nghiệp FDI không hẳn nằm ở Luật Chứng khoán hay sự phân biệt giữa doanh nghiệp nội và ngoại. Trong nhiều trường hợp, vấn đề nằm ở chính những điều kiện đầu tư, hợp đồng và cam kết được xác lập từ thời điểm dự án FDI được cấp phép.

Mở đường cho doanh nghiệp FDI tham gia thị trường vốn
Việc tháo gỡ các rào cản để doanh nghiệp FDI tham gia thị trường chứng khoán được đánh giá là bước đi quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng thị trường vốn. Theo ông Hoàng Văn Thu, nhu cầu vốn của nền kinh tế giai đoạn 2026 - 2030 ước đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, cao gấp khoảng hai lần so với giai đoạn 2021 - 2025. Trong đó, thị trường vốn được kỳ vọng sẽ huy động khoảng 5,4 triệu tỷ đồng.
Theo định hướng phát triển đến năm 2030, phần lớn nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế sẽ được đáp ứng thông qua thị trường vốn. Để hiện thực hóa mục tiêu này, thị trường chứng khoán không chỉ cần mở rộng quy mô mà còn phải đa dạng hóa nguồn hàng và thu hút thêm các doanh nghiệp có chất lượng.
Trong bức tranh đó, khu vực doanh nghiệp FDI được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng. Không chỉ mang theo dòng vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp FDI còn có thể trở thành nguồn hàng chất lượng, góp phần nâng cao quy mô, tính minh bạch và sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Trúc Lan




















