Kinh tế Việt Nam ghi nhận đà tăng trưởng mạnh mẽ trong quý III/2026 với tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 9,95%, phản ánh sức bật từ sản xuất công nghiệp, đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Để làm rõ những động lực tạo nên kết quả này và triển vọng tăng trưởng trong thời gian tới, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).
Mở ra dư địa tăng trưởng mới
- Thưa ông, GDP quý III/2026 tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Ông đánh giá thế nào về đà tăng trưởng này và đâu là những động lực chính tạo nên sự bứt tốc trong quý III?
TS. Phạm Anh Tuấn: Theo tôi, mức tăng 9,95% trong quý III là kết quả rất tích cực, đặc biệt ở chỗ tốc độ tăng trưởng đã tăng liên tục từ 8,15% trong quý I lên 8,81% trong quý II và 9,95% trong quý III, đưa tăng trưởng GDP 9 tháng lên 9,01%. Theo số liệu của Cục Thống kê, kết quả tích cực này không chỉ xuất phát từ một động lực đơn lẻ mà được hình thành từ sự cộng hưởng của sản xuất công nghiệp, đầu tư và sự mở rộng của cả cầu trong nước lẫn cầu bên ngoài.
Động lực thứ nhất đóng góp vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế hiện nay là khu vực công nghiệp và xây dựng. Trong quý III, khu vực này tăng tới 12,5% và đóng góp 51,57% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý III tăng 14,8%, trong khi 9 tháng tăng 12,3%, cao nhất trong cùng kỳ kể từ năm 2019. Cùng kỳ năm 2025 khu vực công nghiệp và xây dựng cũng đã có tốc độ tăng trưởng khá mạnh, điều này cho thấy kết quả đạt được của năm 2026 là càng ấn tượng.

Động lực thứ hai là đầu tư mở rộng mạnh. Xét từ phía sử dụng GDP, tích lũy tài sản quý III tăng tới 21,39%. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý III đạt khoảng 1.291 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7%; tính chung 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%. Đáng chú ý, tốc độ đầu tư cũng tăng dần qua các quý: 11,6% trong quý I, 15,6% trong quý II và 16,7% trong quý III.
FDI thực hiện 9 tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%, mức cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua; trong khi vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tăng khoảng 19%. Cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đây là một trong những lý do quan trọng khiến xây dựng, vật liệu, máy móc và nhiều ngành công nghiệp liên quan tăng nhanh.
Động lực thứ ba là xuất khẩu tăng trưởng rất nhanh. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý III đạt 167,85 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ và 17% so với quý II. Sự phục hồi của đơn hàng bên ngoài đặc biệt có ý nghĩa đối với các ngành điện tử, dệt may, chế biến thực phẩm và các trung tâm công nghiệp xuất khẩu.
Bên cạnh đó, thị trường trong nước tiếp tục là trụ đỡ quan trọng. Tiêu dùng cuối cùng quý III tăng 8,96%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt hơn 2 triệu tỷ đồng, tăng 14,5% theo giá hiện hành. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ tăng 13,4%; sau khi loại trừ yếu tố giá vẫn tăng 7,8%, cao hơn mức 7,2% của năm trước. Như vậy, sự bứt tốc trong quý III có thể khái quát là kết quả của ba động lực cùng tăng tốc: Sản xuất công nghiệp - đầu tư - cầu thị trường.
- Từ góc độ nghiên cứu kinh tế, theo ông, những yếu tố nào cho thấy chất lượng và tính bền vững của mức tăng trưởng 9,95%? Những chuyển biến về năng suất, đầu tư và sức cạnh tranh của doanh nghiệp đã đóng góp ra sao vào kết quả này?
TS. Phạm Anh Tuấn: Tôi cho rằng, cần phân biệt giữa tốc độ tăng trưởng cao và chất lượng tăng trưởng cao. Mức 9,95% chắc chắn là tích cực, nhưng để đánh giá tính bền vững phải xem tăng trưởng có đi cùng với năng suất, tích lũy năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp hay không. Từ góc độ này, số liệu 9 tháng cho thấy một số tín hiệu tích cực khá rõ, nhưng đồng thời cũng tồn tại những điểm cần thận trọng.
Thứ nhất, có dấu hiệu cho thấy năng suất đang đóng vai trò đáng kể hơn. Trong 9 tháng, GDP tăng 9,01%, trong khi số người có việc làm đạt khoảng 52,7 triệu người, chỉ tăng khoảng 684 nghìn người, tương đương khoảng 1,3% so với cùng kỳ. Nếu sử dụng GDP thực trên một lao động có việc làm như một chỉ báo gần đúng, có thể suy ra năng suất lao động đã tăng khoảng 7,6%. Điều này cũng phù hợp với diễn biến trong công nghiệp khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng tăng 12,3%, nhưng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp vào đầu tháng 9 chỉ tăng 3,4% so với cùng kỳ.
Chênh lệch khá lớn giữa tốc độ tăng sản lượng và lao động là một tín hiệu tích cực về năng suất và mức độ sử dụng công suất, mặc dù cần có dữ liệu chi tiết hơn về số giờ làm việc, vốn và giá trị gia tăng mới có thể kết luận đầy đủ. Mặc dù vậy, so với bình quân giai đoạn 2021-2025 khi năng suất lao động chung toàn nền kinh tế chỉ tăng 4,78%/năm, đây là một kết quả rất tích cực và đúng hướng với mục tiêu tăng năng suất lao động trong giai đoạn 2026-2030 đạt 8,5%/năm.
Thứ hai, cơ cấu tăng trưởng đang nghiêng mạnh hơn về tích lũy và mở rộng năng lực sản xuất. Tích lũy tài sản quý III tăng 21,39%, nhanh hơn đáng kể 8,96% so với tiêu dùng cuối cùng. Đầu tư toàn xã hội quý III tăng 16,7%; vốn FDI thực hiện và đầu tư công đều tăng. Đặc biệt, 94,1% kim ngạch nhập khẩu 9 tháng là tư liệu sản xuất, trong đó máy móc, thiết bị và phụ tùng chiếm 58,3% tổng nhập khẩu. Vì vậy, việc nhập khẩu tăng mạnh hiện nay một phần khá lớn xuất phát từ nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, linh kiện và nguyên liệu phục vụ một chu kỳ mở rộng sản xuất và đầu tư.
Thứ ba, năng lực cạnh tranh của khu vực sản xuất xuất khẩu có sự cải thiện. Theo kết quả điều tra hơn 6.000 doanh nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê, 34,2% doanh nghiệp đánh giá hoạt động quý III tốt hơn quý II, trong khi 20,1% cho rằng khó khăn hơn; 31,9% cho biết đơn đặt hàng mới tăng và 24,8% cho biết đơn đặt hàng xuất khẩu tăng. Đặc biệt, trong ngành điện tử, máy tính và sản phẩm quang học, 45% doanh nghiệp cho biết khối lượng sản xuất tăng và 36,5% cho biết đơn hàng xuất khẩu tăng. Đây là những chỉ báo tương đối tốt về cầu thị trường và khả năng cạnh tranh sản xuất.















