Đại biểu Quốc hội: Tín dụng 146% GDP, dòng vốn chưa vào sản xuất
Quốc hội cho biết tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đã lên tới 146%, nhưng dòng vốn vẫn chưa chảy mạnh vào khu vực sản xuất. Thực trạng lệch pha này đang đặt ra rủi ro cho tăng trưởng và hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

Khát vọng tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm trong giai đoạn 2026–2030 được đánh giá là mục tiêu mang tính bước ngoặt của nền kinh tế. Tuy nhiên, thảo luận tại Quốc hội sáng 21/4 cho thấy nhiều điểm nghẽn lớn vẫn tồn tại. Các đại biểu cảnh báo rủi ro tín dụng, ách tắc vốn trung dài hạn và hiệu quả đầu tư thấp đang là những “nút thắt” cản trở tăng trưởng. Nếu không xử lý, mục tiêu hai con số sẽ khó khả thi.
Đại biểu Nguyễn Như So (Bắc Ninh) chỉ ra nghịch lý dòng vốn khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới 146%. Dù vậy, nền kinh tế vẫn thiếu vốn trung và dài hạn cho sản xuất. Hệ thống ngân hàng buộc phải “lấy ngắn nuôi dài”, tạo áp lực lớn lên thanh khoản và rủi ro hệ thống. Dòng vốn vì thế chưa chảy vào khu vực tạo giá trị gia tăng cao.
Sự lệch pha càng rõ khi nhìn vào cơ cấu tín dụng. Đại biểu Lê Hoàng Anh (Gia Lai) cho biết dư nợ bất động sản tăng 132% giai đoạn 2021–2025, đạt 4,54 triệu tỷ đồng. Mức tăng này gấp 2,4 lần tín dụng công nghiệp. Riêng 2024–2025, tín dụng bất động sản tăng 37,6%, trong khi công nghiệp chỉ tăng 9,4%.
Theo đại biểu Lê Hoàng Anh, vốn đang bị “giam” trong tài sản đầu cơ thay vì chảy vào sản xuất. Ông đề xuất Ngân hàng Nhà nước cần kiểm soát tín dụng đầu cơ bằng công cụ thị trường, áp dụng dự trữ bắt buộc theo lĩnh vực. Đồng thời, cần sử dụng công cụ thuế để hạn chế đầu cơ, qua đó điều hướng dòng tiền quay lại khu vực sản xuất và công nghệ.
Ở góc độ vĩ mô, áp lực lên hệ thống ngân hàng cũng đang gia tăng. Đại biểu Nguyễn Hải Nam (Thừa Thiên Huế) cho biết tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam khoảng 145%, cao hơn đáng kể so với mức 110% tại Malaysia hay Thái Lan. Điều này làm gia tăng rủi ro nợ xấu và sức ép lên hệ số an toàn vốn (CAR). Nền kinh tế vì thế cần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng, Việt Nam cần khoảng 200 tỷ USD vốn, tương đương 40% GDP. Đại biểu Nguyễn Hải Nam đề xuất phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là trái phiếu và cổ phiếu. Đồng thời, cần hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng các quỹ đầu tư quốc gia quy mô lớn. Những mô hình như CIC (Trung Quốc) hay GIC (Singapore) được xem là tham chiếu quan trọng.
Một điểm nghẽn khác là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Chính phủ đặt mục tiêu giảm hệ số ICOR từ 6,43 xuống 4,5–4,8 trong giai đoạn tới. Đại biểu Phan Duy Anh (Đà Nẵng) nhận định đây là mức giảm rất lớn và chưa từng có tiền lệ. Tuy nhiên, nếu không siết kỷ luật đầu tư công và nâng cao trách nhiệm giải trình, mục tiêu này khó đạt được.
Các đại biểu cho rằng nguyên nhân ICOR cao không phải do thiếu vốn mà do phân bổ kém hiệu quả. Giải pháp được đề xuất gồm cắt giảm ít nhất 30% dự án kém hiệu quả, bắt buộc đánh giá hiệu quả sau đầu tư và số hóa toàn bộ vòng đời vốn. Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn thừa nhận tăng trưởng hai con số là thách thức lớn, khi thế giới chỉ có 13 quốc gia duy trì được mức này trong hơn một thập kỷ.
Từ góc độ thị trường, những thay đổi trong điều hướng dòng vốn đang hàm ý một giai đoạn phân hóa mạnh giữa các nhóm ngành. Khi tín dụng bất động sản có thể bị kiểm soát chặt hơn, áp lực sẽ gia tăng với các doanh nghiệp phụ thuộc đòn bẩy tài chính cao. Ngược lại, việc thúc đẩy thị trường vốn có thể mở ra dư địa cho nhóm chứng khoán, quản lý quỹ và các doanh nghiệp có khả năng huy động vốn qua kênh cổ phiếu, trái phiếu.
Đồng thời, định hướng “dẫn dòng vốn có mục tiêu” vào các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng và sản xuất sẽ tạo lợi thế cho các doanh nghiệp thuộc chuỗi giá trị này trong trung và dài hạn. Dòng tiền trên thị trường tài sản vì thế có thể dịch chuyển khỏi khu vực đầu cơ sang khu vực tạo giá trị thực. Đây sẽ là yếu tố then chốt định hình cơ hội đầu tư trong chu kỳ tăng trưởng mới.
Mạnh Huyền



















