Chiến lược tài chính 2030 ưu tiên khoảng 40% chi ngân sách cho đầu tư phát triển
Chiến lược tài chính mới không chỉ thay đổi các chỉ tiêu thu - chi ngân sách mà còn bổ sung nhiều định hướng về quản lý nợ công, điều hành giá, khai thác nguồn thu mới và huy động các dòng vốn cho chuyển đổi xanh.

Chiến lược tài chính đến năm 2030 vừa được Chính phủ điều chỉnh không chỉ mở rộng dư địa tài khóa để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số, mà còn thiết kế lại nhiều chỉ tiêu thu - chi ngân sách theo hướng ưu tiên đầu tư phát triển, nâng chất lượng nguồn thu và tăng tính bền vững của nền tài chính quốc gia.
Theo Quyết định số 1119/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký ngày 23/6, mục tiêu huy động ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 được nâng từ khoảng 16-17% GDP lên 18% GDP. Trong đó, tỷ trọng thu nội địa cũng được điều chỉnh tăng từ 86-87% lên 87-88%, phản ánh định hướng giảm dần sự phụ thuộc vào các nguồn thu biến động từ xuất nhập khẩu và tài nguyên.
Việc nâng mục tiêu huy động ngân sách diễn ra trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Thay vì tăng thu bằng cách mở rộng gánh nặng thuế, Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu mở rộng cơ sở thu, nâng cao chất lượng nguồn thu và khai thác hiệu quả các nguồn thu mới để tăng tính bền vững của ngân sách.
Ở chiều chi ngân sách, lần đầu tiên cơ cấu chi được lượng hóa rõ hơn với mục tiêu dành khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển, trong khi chi thường xuyên được kiểm soát ở mức 51-52%. Đây là tỷ trọng cao nếu so với nhiều giai đoạn trước, cho thấy ưu tiên lớn hơn dành cho hạ tầng, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế.
Song song với việc tăng đầu tư, Chiến lược yêu cầu bố trí ngân sách cho các Chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng hiệu quả, tránh trùng lặp giữa các chương trình, dự án và nhiệm vụ chi. Việc phân bổ vốn đầu tư công cũng sẽ gắn chặt hơn với tiến độ giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với ngân sách địa phương, Chính phủ yêu cầu tập trung khai thác các nguồn thu mới nhưng không ban hành các cơ chế miễn, giảm hay ưu đãi thuế vượt quy định của pháp luật hiện hành. Mục tiêu là bảo đảm tính thống nhất của chính sách tài khóa, đồng thời hạn chế tình trạng cạnh tranh ưu đãi giữa các địa phương.
Một điểm đáng chú ý khác là Chiến lược bổ sung mục tiêu đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công và tiếp tục tinh gọn bộ máy. Theo đó, chỉ duy trì các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị và cung cấp dịch vụ công thiết yếu, qua đó từng bước giảm áp lực chi thường xuyên đối với ngân sách nhà nước.
Ở góc độ điều hành, Chính phủ yêu cầu phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát. Việc điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý cũng sẽ được thực hiện theo lộ trình phù hợp nhằm hạn chế gia tăng kỳ vọng lạm phát.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý nợ công, tăng tính minh bạch trong huy động và sử dụng vốn vay, đồng thời phấn đấu đưa Việt Nam sớm đạt xếp hạng tín nhiệm đầu tư. Đây được xem là điều kiện quan trọng để giảm chi phí huy động vốn và mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực quốc tế trong giai đoạn tới.
Bên cạnh nguồn lực trong nước, Chính phủ cũng định hướng khai thác mạnh hơn các dòng vốn từ kiều hối, đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các nguồn tài chính quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính và mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Việc nâng cao hiệu quả thực thi các hiệp định thương mại tự do và hợp tác tài chính quốc tế cũng được xác định là một trong những giải pháp mở rộng không gian tài khóa.
Việc điều chỉnh Chiến lược tài chính đến năm 2030 cho thấy trọng tâm không chỉ nằm ở quy mô ngân sách, mà còn ở cách huy động và phân bổ nguồn lực. Nếu mục tiêu nâng tỷ lệ đầu tư phát triển lên khoảng 40% tổng chi ngân sách đi cùng với cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả đầu tư công và mở rộng cơ sở thu, nền tài chính quốc gia sẽ có thêm dư địa để hỗ trợ tăng trưởng dài hạn mà vẫn bảo đảm ổn định vĩ mô.
Mạnh Huyền




















