Xuất nhập khẩu 2026: Mục tiêu 16% và bài toán giá trị giữ lại
XXuất nhập khẩu tiếp tục được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng năm 2026, với mục tiêu kim ngạch tăng 15–16%. Tuy nhiên, thách thức không nằm ở con số tăng trưởng, mà ở chất lượng xuất khẩu và giá trị thực sự giữ lại trong nền kinh tế.

Năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15–16% so với năm 2025, theo Nghị quyết 01/NQ-CP. Mục tiêu này được đưa ra trong bối cảnh, xuất nhập khẩu tiếp tục giữ vai trò quan trọng với tăng trưởng, nhưng dư địa mở rộng đang chịu sức ép từ cả bên ngoài lẫn nội tại.
Số liệu cho thấy, nền tảng xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn ở mức cao. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,1 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước; cán cân thương mại thặng dư khoảng 20 tỷ USD, đánh dấu 10 năm liên tiếp xuất siêu kể từ 2016.
Tuy vậy, TS. Cấn Văn Lực – Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, Kinh tế trưởng BIDV – cho rằng mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15–16% trong năm 2026 là rất thách thức, khi nhiều tổ chức quốc tế như WTO, Ngân hàng Thế giới và IMF đều dự báo tăng trưởng thương mại toàn cầu giai đoạn tới sẽ thấp hơn đáng kể so với năm 2025.
“Các kịch bản hiện nay thiên về mức tăng 12–14%, thấp hơn mục tiêu Chính phủ giao”, ông Lực nhận định.
Không chỉ chịu sức ép từ bên ngoài, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam cũng bộc lộ những điểm nghẽn. Theo TS. Cấn Văn Lực, nhóm hàng công nghệ cao như điện tử, điện máy tiếp tục gia tăng tỷ trọng, trong khi các ngành truyền thống như dệt may, da giày dù vẫn tăng trưởng nhưng tốc độ mở rộng thị phần đã chậm lại.
Đáng chú ý, xuất nhập khẩu dịch vụ đang là điểm yếu kéo giảm đóng góp ròng của khu vực ngoại thương vào GDP. Trong khi xuất khẩu hàng hóa nhiều năm liền duy trì thặng dư lớn, cán cân thương mại dịch vụ của Việt Nam vẫn ở trạng thái âm.
“Có năm hàng hóa xuất siêu khoảng 20 tỷ USD nhưng dịch vụ lại nhập siêu gần 10 tỷ USD, khiến phần đóng góp ròng thực tế chỉ còn một nửa”, ông Lực phân tích.
Trong cơ cấu xuất khẩu ngành dịch vụ, du lịch và vận tải chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch, song hiệu quả chưa tương xứng. Du lịch tăng về lượng khách, nhưng mức chi tiêu và thời gian lưu trú còn thấp; còn lĩnh vực vận tải, logistics phụ thuộc lớn vào doanh nghiệp nước ngoài, làm gia tăng chi phí nhập khẩu dịch vụ.
Bên cạnh đó, khu vực FDI tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước hạn chế về công nghiệp hỗ trợ và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Theo TS. Cấn Văn Lực, nếu năng lực sản xuất nội địa không được cải thiện, tình trạng “xuất khẩu tăng nhanh nhưng giá trị giữ lại thấp” sẽ còn kéo dài.
Từ những phân tích trên, ông Lực cho rằng, định hướng thúc đẩy xuất nhập khẩu giai đoạn tới cần chuyển từ mục tiêu tăng kim ngạch sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, tập trung vào xuất khẩu dịch vụ, phát triển logistics, nâng tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng giá trị trong nước.
“Đây không chỉ là yêu cầu của năm 2026, mà là điều kiện để xuất nhập khẩu thực sự trở thành động lực bền vững của tăng trưởng trong giai đoạn 2026–2030”, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.
Quang Sơn


















