Cán cân thương mại quý đầu năm, nhập siêu 3,64 tỷ USD
Tính chung quý 1/2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,57 tỷ USD).
Theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 3, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 93,55 tỷ USD, tăng 39,2% so với tháng trước và tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý 1/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,50 tỷ USD, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,1%; nhập khẩu tăng 27,0%.

Ảnh minh họa.
Với kết quả trên, cán cân thương mại hàng hóa tháng 3 nhập siêu 0,67 tỷ USD. Tính chung quý 1/2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,57 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,73 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,09 tỷ USD.
Về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 đạt 46,44 tỷ USD, tăng 40,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,96 tỷ USD, tăng 39,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,48 tỷ USD, tăng 40,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 tăng 20,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 20,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 36,5%.
Tính chung quý 1/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3%, chiếm 80,1%.
Trong quý 1/2026 có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 62,4%).
Về xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3 đạt 47,11 tỷ USD, tăng 38,2% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,45 tỷ USD, tăng 40,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,66 tỷ USD, tăng 37,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Ba tăng 27,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 3,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 47,1%.
Tính chung quý 1/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 126,57 tỷ USD, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 35,2 tỷ USD, giảm 4,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,37 tỷ USD, tăng 45,3%.
Trong quý 1/2026 có 22 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 82,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 49,8%).
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa quý 1/2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39,0 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 50,1 tỷ USD.
Trong quý 1/2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 33,9 tỷ USD tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 10,6 tỷ USD, tăng 6,6%; xuất siêu sang Nhật Bản 0,4 tỷ USD, giảm 28,4%; nhập siêu từ Trung Quốc 33,3 tỷ USD, tăng 34,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 10,6 tỷ USD, tăng 48,7%; nhập siêu từ ASEAN 5,0 tỷ USD, tăng 31,3%.
Để duy trì đà tăng trưởng năm 2026, Cục Thống kê cho rằng, doanh nghiệp cần nỗ lực tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA) để mở rộng sang các khu vực tiềm năng như Nam Á, châu Phi, Mỹ Latinh hay Đông Âu. Cùng với đó, Bộ Công Thương cũng cần đẩy mạnh thông tin thị trường, đặc biệt là hệ thống dự báo và cảnh báo sớm. Trong một thế giới biến động nhanh và khó lường, thông tin chính xác và kịp thời chính là lợi thế cạnh tranh.
Điều quan trọng là nâng cao năng lực dự báo và cảnh báo thị trường giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh. Cùng với đó, cần sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành trong điều hành chính sách liên quan đến vận tải, tài chính, ngoại tệ và chuỗi cung ứng. Việc điều hành linh hoạt giữa xuất khẩu và tiêu dùng trong nước đóng vai trò quan trọng giúp giảm áp lực tồn kho và duy trì dòng vốn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, việc sử dụng hiệu quả công cụ quản lý ngoại thương sẽ giúp điều tiết nhịp xuất nhập khẩu, bảo đảm hàng hóa lưu thông thông suốt, hạn chế tình trạng ùn ứ và hỗ trợ doanh nghiệp ổn định sản xuất. Đây là giải pháp mang tính điều tiết mềm và ý nghĩa lớn trong bối cảnh thị trường nhiều biến động.
Cùng với chính sách hỗ trợ, vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài ngày càng được khẳng định như cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp và thị trường. Việc cung cấp thông tin kịp thời, cảnh báo rủi ro và hỗ trợ xử lý rào cản thương mại sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong chiến lược kinh doanh.
Minh An (t/h)




















