Thúc đẩy ba kênh vốn, đề xuất mã hóa bất động sản và chứng khoán để tăng vòng quay vốn
Sáng 22/10, tại phiên thảo luận mở “Kích hoạt vòng quay lớn để đưa nguồn lực thành động lực tăng trưởng hai con số”, TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đặt vấn đề phát huy đồng thời vai trò của tín dụng ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là các dự án đầu tư trọng điểm quốc gia.

Phiên thảo luận nằm trong khuôn khổ hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số” do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp cùng Hệ sinh thái Truyền thông Tài chính Người Quan Sát tổ chức tại Hà Nội.
Ông Kiên cho biết các tổ chức tín dụng đóng góp khoảng 51% nguồn vốn huy động phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2026–2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, đặt ra yêu cầu mở rộng đóng góp của các kênh huy động khác.
Từ thực tế này, ông đề nghị các chuyên gia làm rõ cách tiếp tục phát huy sức mạnh của tín dụng ngân hàng, đồng thời khai thác dư địa của trái phiếu và chứng khoán để tạo ra “ba cái lực đẩy cùng lúc”, cùng cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Kết nối các kênh vốn theo vòng đời dự án
Trao đổi tại tọa đàm, chuyên gia kinh tế PGS.TS. Phùng Thế Đông đưa ra cách tiếp cận theo vòng đời dự án, trong đó tín dụng ngân hàng và thị trường vốn đảm nhiệm vai trò ở những giai đoạn khác nhau.
Theo ông, trong giai đoạn đầu triển khai, dự án thường sử dụng nguồn vốn tín dụng. Khi hoàn thành, đi vào hoạt động và bắt đầu có nguồn thu, doanh nghiệp có thể huy động qua thị trường vốn, chẳng hạn phát hành trái phiếu, để giảm áp lực đối với nguồn vay ngân hàng.
Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào sự tiếp nối giữa các kênh tài chính. Tín dụng hỗ trợ quá trình hình thành dự án; nguồn vốn huy động trên thị trường sau đó giúp doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu tài trợ khi hoạt động đã tạo được dòng tiền. “Hai bộ máy phải vận hành trơn tru thì mới giảm áp lực đối với tín dụng của hệ thống ngân hàng”, PGS.TS. Phùng Thế Đông phân tích.

Theo ông, phát triển thị trường vốn dài hạn có ý nghĩa lớn trong bối cảnh nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào ngân hàng, trong khi hệ thống vẫn phải sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.
Ông cũng lưu ý cần củng cố nguồn vốn đầu vào cùng với mở rộng cho vay. Việc so sánh tốc độ tăng huy động và tín dụng phải được xem xét thận trọng, tránh chỉ dựa vào chênh lệch giữa hai chỉ tiêu để kết luận về căng thẳng thanh khoản.
Để các kênh tài trợ tiếp nối hiệu quả, thị trường cần lực lượng nhà đầu tư sẵn sàng nắm giữ tài sản trong thời gian dài. PGS.TS. Phùng Thế Đông nhấn mạnh vai trò của “người mua dài hạn”, đặc biệt là các quỹ đầu tư.
Theo ông, thị trường phải có hàng hóa, nguồn tiền và người mua. Dư địa phát triển các quỹ còn lớn, cần được khai thác để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ vốn.
Tiếp nối trao đổi, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính – Tiền tệ quốc gia, cho rằng kênh quỹ đầu tư tại Việt Nam còn phát triển khiêm tốn. Theo số liệu ông dẫn, tổng tài sản các quỹ đang quản lý vào khoảng 850.000 tỷ đồng.
Ông đề nghị phát triển các định chế đầu tư dài hạn, đồng thời nghiên cứu mở rộng kênh đầu tư đối với nguồn vốn bảo hiểm xã hội để phát huy nguồn lực này.
Đối với thị trường trái phiếu, TS. Cấn Văn Lực kiến nghị đa dạng hóa công cụ huy động, trong đó có trái phiếu công trình, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu đô thị và trái phiếu đường sắt.
Đây là những đề xuất gắn với yêu cầu huy động nguồn lực cho hạ tầng và các dự án lớn được đặt ra ở đầu phiên thảo luận. Việc mở rộng công cụ cần đi cùng phát triển cơ sở nhà đầu tư, kết nối nhu cầu vốn dài hạn với những nguồn tiền có thời hạn đầu tư phù hợp.
Doanh nghiệp cần thay đổi thói quen tìm vốn ngân hàng
Bên cạnh cơ chế phát triển thị trường, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh yêu cầu thay đổi từ chính doanh nghiệp. “Lâu nay cần vốn cứ nghĩ ngay đến ngân hàng”, ông nhận xét.
Theo ông, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa nguồn tài trợ, xem xét trái phiếu, vốn vay quốc tế và các kênh huy động khác. Việc lựa chọn nguồn vốn phải đi cùng chuẩn bị năng lực quản trị và đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư.
Khi tham gia huy động vốn quốc tế, doanh nghiệp phải công khai, minh bạch và chuyên nghiệp hơn. Ông nhấn mạnh: “Không thể có 3 sổ để mà chúng ta đi vay của nước ngoài”. Yêu cầu này cũng được ông đặt ra khi đề cập khả năng doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thông qua trung tâm tài chính quốc tế. Muốn khai thác các cơ hội huy động mới, doanh nghiệp cần chấp nhận những tiêu chuẩn tương ứng về thông tin và quản trị.
Đáng chú ý, TS. Cấn Văn Lực đề xuất nghiên cứu cho phép mã hóa tài sản bất động sản và chứng khoán, đưa lên nền tảng blockchain để giao dịch trong dài hạn. Theo ông, đây là hướng tiếp cận có thể hỗ trợ tài sản và dòng vốn luân chuyển nhanh hơn, bổ sung phương thức khai thác nguồn lực cho thị trường.
Ông cho biết việc mã hóa bất động sản, chứng khoán để giao dịch theo hướng này chưa được cho phép, đồng thời kiến nghị nghiên cứu mở cơ chế trong tương lai.
Đề xuất được ông đặt trong yêu cầu đa dạng hóa các kênh tài chính và tăng vòng quay vốn của nền kinh tế. Bên cạnh phát triển tín dụng, trái phiếu và quỹ đầu tư, việc nghiên cứu những phương thức giao dịch mới được kỳ vọng tạo thêm khả năng kết nối nguồn tiền với tài sản và nhu cầu đầu tư.
Bên cạnh đó, ông Lực cũng nhấn mạnh đa dạng hóa kênh tài chính cần gắn với thúc đẩy dòng vốn luân chuyển, đưa nguồn lực vào sử dụng và tạo thêm khả năng tài trợ cho hoạt động đầu tư tiếp theo. Ông Lực chia sẻ: "Vòng quay vốn hiện nay của chúng ta vẫn còn chậm
Các trao đổi tại tọa đàm tập trung làm rõ sự tiếp nối giữa tín dụng với trái phiếu, vai trò của nhà đầu tư dài hạn và yêu cầu doanh nghiệp thay đổi tư duy huy động vốn. Đây là những điều kiện để các kênh tài chính phối hợp hiệu quả, chia sẻ nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế.
Mạnh Huyền













