Tháo gỡ điểm nghẽn thị trường vốn: Chìa khóa khơi thông 38,5 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026–2030
Nhu cầu vốn 38,5 triệu tỷ đồng, áp lực không thể chỉ đặt lên ngân hàng
Sáng 22/10, tại Hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp cùng Hệ sinh thái truyền thông tài chính Người Quan Sát tổ chức, TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hóa các kênh huy động vốn, tháo gỡ những vướng mắc cụ thể và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao.
Theo ông Hiển, mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam đã được thể hiện trong các chủ trương của Trung ương, trong đó có Kết luận 18. Trung ương cũng đã họp, đánh giá tình hình kinh tế năm 2026 và xem xét kế hoạch phát triển kinh tế năm 2027. Để thực hiện các mục tiêu đề ra, một trong những nhiệm vụ quan trọng trước tiên là huy động đủ nguồn lực tài chính, đồng thời có cơ chế phân bổ và sử dụng hiệu quả.

Dẫn tính toán theo kịch bản tăng trưởng, ông cho biết tổng nguồn vốn cần huy động trong giai đoạn 2026–2030 vào khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong khi giai đoạn 2021–2025 khoảng 17,4 triệu tỷ đồng. Như vậy, nhu cầu vốn trong 5 năm tới cao hơn gấp đôi giai đoạn trước, đặt ra yêu cầu lớn đối với cả khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài.
Cụ thể, vốn đầu tư của Nhà nước dự kiến tăng từ khoảng 4,8 triệu tỷ đồng lên 12,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư công vào khoảng 8,3–8,5 triệu tỷ đồng, so với khoảng 3,1 triệu tỷ đồng của giai đoạn trước. Vốn đầu tư ngoài nhà nước dự kiến khoảng 20,4 triệu tỷ đồng, so với 9,8 triệu tỷ đồng; vốn đầu tư khu vực FDI khoảng 5,6 triệu tỷ đồng, so với 2,8 triệu tỷ đồng. Nếu tính theo giá so sánh, vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến khoảng 20 triệu tỷ đồng, trong khi giai đoạn trước khoảng 11,3 triệu tỷ đồng.
Theo ông Hiển, quy mô nguồn lực cần huy động đòi hỏi phải khai thác đồng thời nhiều kênh vốn, đồng thời xử lý những điểm nghẽn đang cản trở dòng tiền đi vào hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Đề cập tình hình kinh tế 9 tháng, ông đánh giá nền kinh tế đạt nhiều kết quả nổi bật, với tăng trưởng GDP khoảng 9,01%, riêng quý III đạt khoảng 9,95%. Tuy nhiên, cùng với kết quả tăng trưởng là áp lực đối với hệ thống tài chính, trước hết ở bài toán thanh khoản và cân đối giữa huy động với cho vay của các ngân hàng.
Ông cho biết thêm, dư nợ tín dụng trong 9 tháng tăng 9,23% so với cuối năm 2025, còn huy động bằng đồng Việt Nam tăng 10,15%. Đáng chú ý, khoảng 80% nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi khoảng 50% dư nợ tín dụng là trung và dài hạn. Cơ cấu này đặt ra yêu cầu cân đối kỳ hạn nguồn vốn trong quá trình đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

Ông ghi nhận sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Dù vậy, nhiệm vụ cung ứng vốn cần được chia sẻ giữa các cấu phần của hệ thống tài chính. “Nếu huy động nguồn lực chỉ đặt nặng lên đôi vai của hệ thống ngân hàng thì rất khó khăn”, ông Hiển nhấn mạnh.
Từ đó, ông đề nghị các chuyên gia phân tích những chính sách cần thiết để cải thiện năng lực cung ứng vốn của ngân hàng. Trong đó, ông nêu một số khuyến nghị đã được đặt ra như đẩy nhanh tăng vốn cho nhóm ngân hàng thương mại nhà nước thuộc Big 4, tạo điều kiện thuận lợi hơn để các ngân hàng, bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần, huy động vốn vay từ nước ngoài. Theo ông, chi phí vay nước ngoài cần được xem xét trong tổng thể điều hành chính sách vĩ mô, có tính đến sự đánh đổi giữa các mục tiêu. Đồng thời, cần làm rõ nguyên nhân dẫn tới cạnh tranh lãi suất huy động tại một số ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân để có giải pháp xử lý phù hợp, sau những chỉ đạo quyết liệt của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Tháo gỡ điểm nghẽn thị trường vốn, mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp
Cùng với kênh ngân hàng, ông Hiển nhấn mạnh yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ vay nợ. Dù đã có đề án cải cách thị trường tài chính với nhiều nhiệm vụ, giải pháp, điều cần thiết lúc này là xác định những vấn đề lớn phải tháo gỡ trong quý IV/2026, năm 2027 và cả giai đoạn 2026–2030. Đối với việc nâng hạng thị trường, ông lưu ý các cải cách phải tiếp tục được thực hiện thực chất và đồng bộ. Dẫn trường hợp Peru cùng thông tin về nguy cơ thay đổi phân hạng thị trường, ông cho rằng những diễn biến này có thể tác động mạnh tới tâm lý nhà đầu tư và uy tín phát triển lâu dài.
Một nội dung cần được Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính phối hợp giải quyết là hoàn thiện cơ chế cho nhà đầu tư nước ngoài, từ công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối đến điều kiện tham gia thị trường. Theo ông, cần tìm được hướng đi chung để vừa kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, vừa mở rộng cơ sở nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các quỹ đầu tư. Ông cũng đề nghị nghiên cứu khả năng khơi thông nguồn lực từ các quỹ, trong đó có Quỹ bảo hiểm xã hội để bổ sung vốn cho thị trường tài chính. Đồng thời, cần đánh giá những trở ngại khiến Việt Nam chưa hình thành được ngành công nghiệp quỹ tương xứng, dù môi trường đầu tư đã được cải thiện, nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết và quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng.
Theo đó, chính sách thu hút và phát triển nhà đầu tư có tổ chức cần được xem xét cùng với chất lượng hàng hóa, cấu trúc thị trường và các điều kiện kỹ thuật. Việc phát triển cơ sở nhà đầu tư, hoàn thiện cơ chế giao dịch và bổ sung hàng hóa cũng là những nội dung quan trọng để thị trường chứng khoán phát triển bền vững.
Với trái phiếu doanh nghiệp, ông Hiển cho rằng phát triển công cụ vay nợ là yêu cầu cần thiết để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Những lỗ hổng về cơ chế, xếp hạng tín nhiệm và cung cấp thông tin cho nhà đầu tư phải được khắc phục, đồng thời cần rà soát các quy định quá chặt có thể cản trở hoạt động huy động vốn. Việc bảo vệ người mua trái phiếu cần đi cùng trách nhiệm của nhà đầu tư đối với quyết định của mình. Theo ông, cơ quan quản lý cần tập trung cải thiện cơ chế thông tin và điều kiện vận hành, tạo cơ sở cho thị trường phát triển.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông gợi mở việc nghiên cứu những hình thức kết nối vốn mới giúp giảm khâu trung gian, giảm chi phí và cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng. Đề cập mô hình Visa Lending đã bước đầu kết nối ngân hàng với doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông đề nghị xem xét các cách thức cung ứng vốn phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của nhóm doanh nghiệp này. Riêng doanh nghiệp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, việc tiếp cận tín dụng còn gặp khó khăn do đặc điểm tài sản chủ yếu là tài sản trí tuệ. Theo ông, dù quy định pháp luật đã có nội dung liên quan, quá trình triển khai vẫn vướng ở khâu định giá và cho vay.
Ông đề nghị các chuyên gia phân tích rõ trở ngại nằm ở quy định của ngân hàng, trách nhiệm của các bên, tính minh bạch, năng lực quản trị hay cơ chế định giá. Cùng với nhận diện vướng mắc, cần xác định chủ thể thực hiện và phần việc Nhà nước phải đảm nhận để cơ chế có thể áp dụng trong thực tế.
Khơi thông vốn quốc tế và nguồn lực trong dân, bảo đảm hiệu quả sử dụng
Bên cạnh nguồn vốn trong nước, ông Hiển đề nghị thảo luận khả năng tiếp cận vốn quốc tế. Ông đề cập việc phía Nhật Bản đang làm việc với các bộ, ngành liên quan về nghiên cứu trái phiếu Samurai, cũng như đề xuất của Ngân hàng Thế giới về một cơ chế huy động nguồn lực quốc tế cho đầu tư hạ tầng.
Thêm vào đó, cơ chế được đề xuất có sự kết hợp giữa SCIC, gắn với định hướng phát triển quỹ đầu tư quốc gia, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và phần vốn Nhà nước tham gia chia sẻ rủi ro nhằm thu hút nguồn lực quốc tế. Tuy nhiên, ông bày tỏ lo ngại về tiến độ xử lý khi khoảng thời gian giữa các lần làm việc, báo cáo về đề xuất kéo dài tới 8 tháng. Theo ông, nếu các kênh huy động vốn được tính toán và chuẩn bị sớm hơn, áp lực lên hệ thống ngân hàng có thể được giảm bớt. Với chính quyền địa phương, ông gợi mở yêu cầu chủ động nghiên cứu tiếp cận nguồn vốn quốc tế và các nguồn vốn khác phục vụ phát triển, đồng thời rà soát những vướng mắc về cơ chế.
Ông ghi nhận có ý kiến cho rằng việc đi vay cần được cân nhắc trong bối cảnh vốn đầu tư công chưa giải ngân hết. Tuy nhiên, vẫn cần tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong tiếp cận và sử dụng những nguồn lực phù hợp với nhu cầu phát triển.
Một nhóm vấn đề khác được ông Hiển đề cập là nguồn lực từ đất đai và các dự án tồn đọng. Theo ông, Chính phủ đã nỗ lực xây dựng những cơ chế đặc biệt để xử lý, song cần tiếp tục xác định các khâu còn vướng để đưa nguồn lực này vào nền kinh tế. Đối với nguồn lực trong dân, bao gồm vàng và ngoại tệ, ông nhấn mạnh việc nghiên cứu huy động phải dựa trên cách tiếp cận thị trường, gắn với quyền lợi của người tham gia. “Người dân bỏ tiền thì cũng phải có lợi ích. Chúng ta phải tiếp cận theo hướng thị trường. Tất nhiên, chúng ta vẫn kêu gọi lòng yêu nước, đầu tư, nhưng phải bảo đảm tốt nhất lợi ích cho người có tiền, người gửi tiền”, ông Hiển nêu quan điểm.
Cùng với huy động vốn, ông lưu ý yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng, lựa chọn ngành, lĩnh vực tiếp nhận nguồn lực và xác định cơ chế quản lý, kiểm soát phù hợp. Nguồn vốn chỉ có thể đóng góp vào tăng trưởng khi được đưa vào hoạt động đầu tư hiệu quả. Đề cập việc thu hút nguồn lực xã hội, ông dẫn tình trạng dự án điện gió kéo dài nhiều năm và một số nhà đầu tư nước ngoài rời Việt Nam vì chờ xử lý thủ tục. Từ đó, ông nhấn mạnh yêu cầu cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan, tránh để chậm trễ trong từng khâu ảnh hưởng tới quyết định đầu tư và tiến độ triển khai dự án.
Khép lại phần phát biểu, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đề nghị các chuyên gia, doanh nghiệp và nhà đầu tư tập trung đưa ra kiến nghị cụ thể, xác định dòng vốn đang nghẽn ở đâu, cơ chế nào còn vướng và trách nhiệm xử lý thuộc về chủ thể nào. Đại diện của Ban sẽ tiếp tục lắng nghe, tổng hợp ý kiến tại hội thảo để phục vụ công tác triển khai các chủ trương thúc đẩy tăng trưởng và kiến nghị với các cơ quan Chính phủ.
Văn Mạnh
















