Thứ bảy, 29/08/2026, 11:45 (GMT+7)

Tăng trưởng nhanh phải dựa trên công nghệ và đổi mới sáng tạo

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam có nền tảng quan trọng để bước vào giai đoạn phát triển mới, song yêu cầu đặt ra là nâng chất lượng tăng trưởng bằng năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bên lề Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”, GS.TS Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, đã trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về những thành tựu nền tảng của kinh tế Việt Nam sau 40 năm Đổi mới và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn mới.

Ba thành tựu tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

- Thưa Giáo sư, sau 40 năm Đổi mới, kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến rất lớn về quy mô, cơ cấu, mức sống và mức độ hội nhập. Nếu lựa chọn 3 thành tựu nền tảng, Giáo sư sẽ nhấn mạnh những thành tựu nào?

GS.TS Ngô Thắng Lợi: Theo nghiên cứu của tôi, có thể khẳng định 3 thành tựu lớn. Thứ nhất, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 40 năm đạt khoảng 6,4%/năm, cao hơn đáng kể mức trung bình của thế giới và nhiều nước trong khu vực.

GS.TS Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân.

Thứ hai, Việt Nam đã có bước tiến rất lớn về thu nhập bình quân đầu người. Từ một nước có mức thu nhập rất thấp, Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao và đang hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế có thu nhập cao.

Thành tựu thứ ba, theo tôi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chặng đường phát triển tiếp theo, đó là những tiến bộ về xã hội và con người. Những cải thiện về phát triển con người, đời sống và công bằng xã hội trong phân phối thu nhập là một phần quan trọng trong thành quả của 40 năm Đổi mới. Đây cũng chính là nền tảng, là hành trang để Việt Nam chuyển sang một mô hình phát triển mới trong giai đoạn tới.

- Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Theo Giáo sư, chúng ta cần thay đổi điều gì để hiện thực hóa mục tiêu này và tránh bẫy thu nhập trung bình?

GS.TS Ngô Thắng Lợi: Một vấn đề cần nhìn nhận là dù Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, mức tăng trưởng đó vẫn chưa đủ tạo ra động lực mạnh mẽ cho tiến bộ và công bằng xã hội. Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu vẫn là phải duy trì tăng trưởng nhanh. Nhưng nhanh không có nghĩa là bằng mọi giá. Tăng trưởng trong giai đoạn tới phải dựa trên những động lực mới, đặc biệt là công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đây là điểm rất quan trọng. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào những động lực truyền thống như lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay mở rộng đầu tư theo chiều rộng thì rất khó tạo ra bước phát triển mới và càng khó đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.

Bốn động lực nâng chất lượng tăng trưởng

- Giáo sư có thể phân tích rõ hơn những động lực mà Việt Nam cần tập trung để chuyển đổi mô hình tăng trưởng?

GS.TS Ngô Thắng Lợi: Theo tôi, có 4 vấn đề lớn cần tập trung. Thứ nhất, nâng cao đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng TFP của Việt Nam còn khá thấp. Nếu đẩy nhanh tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, đóng góp của năng suất vào tăng trưởng GDP sẽ lớn hơn, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Muốn làm được điều này, phải thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ hai, thay đổi tư duy về thu hút FDI. Tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua có sự đóng góp rất lớn của khu vực FDI. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải thu hút được dòng vốn có chất lượng cao hơn, có khả năng tạo ra lan tỏa công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Theo tôi, cần chuyển từ tư duy đơn thuần là xúc tiến thu hút FDI sang xúc tiến đầu tư tại chỗ. Không nhất thiết chạy theo số lượng dự án hay vốn đăng ký, mà quan trọng là lựa chọn được những nhà đầu tư chiến lược, tạo điều kiện để họ tiếp tục mở rộng đầu tư, chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam. Khi đó, hiệu quả của FDI sẽ không chỉ nằm ở lượng vốn mà còn ở công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong nước.

Nhân viên kỹ thuật Công ty Cổ phần Thiết bị Điện MBT trong quá trình làm việc tại nhà máy ở xã Đan Phượng, TP. Hà Nội.

Thứ ba, phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Cần hình thành sự liên kết tốt hơn giữa các bộ phận trong khu vực doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, các doanh nghiệp lớn cần đóng vai trò dẫn dắt, trở thành những “đầu tàu” có khả năng kéo theo doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ cùng tham gia chuỗi giá trị. Nếu xây dựng được hệ sinh thái doanh nghiệp có sự liên kết chặt chẽ, khu vực tư nhân sẽ có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng mạnh hơn, thay vì phát triển phân tán như hiện nay.

Thứ tư, phân định rõ vai trò của các khu vực kinh tế. Theo tôi, cần xác định rõ sân chơi và chức năng của 3 khu vực gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và khu vực FDI. Trong đó, kinh tế nhà nước phải thực sự giữ vai trò chủ đạo ở những lĩnh vực cần thiết; khu vực tư nhân phải trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; còn FDI là một nguồn lực bổ trợ quan trọng. Sự phân định này cần đi cùng với cơ chế phối hợp, liên kết giữa các khu vực, để mỗi khu vực phát huy được lợi thế và cùng đóng góp vào tăng trưởng.

- Như vậy, có thể hiểu rằng Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và FDI sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất và đổi mới sáng tạo?

GS.TS Ngô Thắng Lợi: Đúng như vậy. Đây là yêu cầu mang tính tất yếu nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn. Điều quan trọng là phải nâng được chất lượng tăng trưởng. Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô GDP mà còn phải thể hiện ở năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực, mức độ đổi mới công nghệ và khả năng tạo ra giá trị gia tăng trong nước. Trong đó, TFP, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành những động lực ngày càng quan trọng.

Đồng thời, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực tư nhân, lớn lên về quy mô và năng lực. Khi doanh nghiệp trong nước đủ sức tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, tận dụng được công nghệ và thị trường từ khu vực FDI, nền kinh tế sẽ giảm dần sự phụ thuộc vào các động lực tăng trưởng truyền thống.

Xin cảm ơn Giáo sư!

40 năm Đổi mới đã tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,4%/năm, gấp khoảng 2 lần mức tăng trưởng trung bình toàn cầu và cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực. Từ quy mô 6,7 tỷ USD năm 1990, GDP Việt Nam đã vượt 500 tỷ USD sau 40 năm, đưa quy mô nền kinh tế tăng hơn 70 lần. Tuy nhiên, đằng sau những kết quả tích cực, nền kinh tế vẫn đối mặt với những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn.

Do đó, mô hình phát triển mới cần hướng tới tăng trưởng bao trùm, bền vững, gắn với phát triển con người, bảo vệ môi trường, hội nhập quốc tế và xây dựng xã hội hiện đại. Đồng thời, cần xây dựng nền kinh tế hiệu quả, tự chủ, hội nhập và một nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là một trong những khâu đột phá.

Nguyễn Hạnh (thực hiện)

Thứ bảy, 29/08/2026, 10:45 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

Nổi bật

Mới nhất