Sửa Luật Điện lực giúp doanh nghiệp tiếp cận điện xanh
Dự thảo sửa đổi Luật Điện lực sẽ trình Quốc hội ngày 20/10 đã tiếp tục hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp và xây dựng khung pháp lý cho thị trường chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC).
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp và phát triển thị trường chứng chỉ năng lượng tái tạo. Đây là những nội dung được doanh nghiệp quan tâm khi yêu cầu giảm phát thải, chứng minh nguồn gốc năng lượng ngày càng gắn chặt với khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn Lâm Đồng. Ảnh: Hoàng Nhưỡng
Trao đổi với Báo Công Thương, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, nhấn mạnh các quy định cần được thiết kế đồng bộ, từ quyền mua điện, khả năng đáp ứng của lưới đến chi phí và phương thức xác nhận sử dụng điện tái tạo.
Tháo gỡ vướng mắc, đồng bộ chính sách
- Thưa đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, bà đánh giá thế nào về khả năng tháo gỡ vướng mắc thực tiễn và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực được trình Quốc hội lần này?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Tôi cho rằng việc sửa đổi Luật Điện lực trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, bởi yêu cầu phát triển của ngành điện đã thay đổi nhanh chóng, trong khi khuôn khổ pháp luật phải đồng thời giải quyết nhiều bài toán: bảo đảm cung ứng điện ổn định, phát triển nguồn điện mới, huy động nguồn lực tư nhân, hình thành thị trường điện cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu giảm phát thải.
Điểm đáng chú ý là nhu cầu sử dụng điện của doanh nghiệp ngày nay không chỉ dừng ở việc có đủ điện và giá điện hợp lý. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, còn phải chứng minh nguồn gốc năng lượng, tỷ lệ sử dụng điện tái tạo và mức phát thải trong quá trình sản xuất. Điều đó đặt ra yêu cầu pháp luật về điện phải theo kịp sự thay đổi của cả thị trường năng lượng lẫn thị trường hàng hóa.
Tôi kỳ vọng dự thảo sẽ góp phần tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế mua bán điện trực tiếp, khả năng tiếp cận nguồn điện tái tạo, thủ tục và trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả của một đạo luật không nên chỉ đánh giá qua số lượng quy định được sửa đổi hay những mục tiêu được ghi nhận, mà phải xem xét liệu doanh nghiệp có thực sự tiếp cận được nguồn điện theo nhu cầu, có dự đoán được chi phí và có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện các cam kết với đối tác hay không.
Một vấn đề cần đặc biệt quan tâm là tính đồng bộ. Cơ chế mua bán điện trực tiếp, chứng nhận điện xanh, quy hoạch và đầu tư lưới điện, vận hành thị trường điện và cơ chế giá cần được thiết kế nhất quán. Nếu mở rộng quyền mua điện nhưng lưới điện không có khả năng tiếp nhận, hoặc cho phép doanh nghiệp tuyên bố sử dụng điện xanh nhưng chưa có phương pháp xác nhận thống nhất, thì chính sách có thể đúng về mục tiêu nhưng khó phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
Vì vậy, tôi đánh giá dự thảo theo hướng tích cực về sự cần thiết và định hướng, nhưng khả năng tháo gỡ thực chất còn phụ thuộc vào chất lượng các quy định cụ thể, văn bản hướng dẫn và năng lực tổ chức thực hiện.
Mua điện tái tạo, chứng minh rõ nguồn gốc
- Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC) có thể mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp? Theo bà, cần làm rõ những quy định nào để việc mua điện và công bố sử dụng điện xanh có căn cứ, minh bạch và khả thi?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Theo tôi, cần nhìn nhận vấn đề từ hai nhu cầu có liên quan nhưng không đồng nhất: doanh nghiệp muốn mua điện từ nguồn tái tạo và doanh nghiệp muốn chứng minh rằng hoạt động sản xuất của mình sử dụng điện xanh.
Cơ chế mua bán điện trực tiếp, hay DPPA, có ý nghĩa ở chỗ tạo thêm lựa chọn cho bên mua và bên bán, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn điện tái tạo, thỏa thuận các điều kiện mua điện và quản trị rủi ro về giá. Đối với nhà đầu tư nguồn điện, cơ chế này cũng có thể mở rộng khả năng tìm kiếm khách hàng và tạo cơ sở cho quyết định đầu tư dài hạn.
Tuy nhiên, DPPA không có nghĩa là mọi doanh nghiệp đều được nhận điện trực tiếp từ một nhà máy điện tái tạo thông qua đường dây riêng. Tùy mô hình được pháp luật cho phép, việc mua bán có thể được thực hiện qua lưới điện hoặc thông qua các cơ chế hợp đồng, thanh toán tương ứng. Do đó, quyền mua điện, phương thức giao nhận, chi phí sử dụng lưới, trách nhiệm cân bằng và xử lý khi nguồn điện không đáp ứng nhu cầu phải được quy định rõ.
Lắp đặt điện mặt trời mái nhà đã giúp các sản phẩm của Công ty CP Bao bì Sông La Xanh (Hà Tĩnh) đáp ứng tiêu chuẩn về giảm phát thải cho bao bì phục vụ hàng xuất khẩu
Đối với chứng nhận điện tái tạo, hay REC, lợi ích là giúp doanh nghiệp có cơ sở xác nhận thuộc tính môi trường của lượng điện đã mua hoặc sử dụng, phục vụ báo cáo phát thải, yêu cầu của khách hàng và chuỗi cung ứng. Nhưng cần phân biệt: chứng chỉ chứng minh thuộc tính điện tái tạo không tự động đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã nhận được lượng điện vật lý tương ứng từ một nhà máy tái tạo tại đúng thời điểm sản xuất.
Đây là điểm quan trọng để tránh tình trạng doanh nghiệp có thể tuyên bố sử dụng điện xanh nhưng không đủ căn cứ kiểm chứng, hoặc cùng một thuộc tính môi trường bị tính cho nhiều bên. Tôi cho rằng quy định về chứng chỉ cần làm rõ đơn vị phát hành, tiêu chuẩn xác nhận, hệ thống đăng ký và truy xuất, cơ chế chuyển nhượng, hủy chứng chỉ khi đã sử dụng để công bố, cũng như cách xử lý khi có sự khác biệt giữa điện giao nhận và chứng chỉ được sở hữu.
Về lợi ích cụ thể, doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong việc lựa chọn nguồn cung, đáp ứng yêu cầu của đối tác xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh và xây dựng kế hoạch giảm phát thải. Nhưng lợi ích đó chỉ thực sự hiện hữu khi chi phí mua điện, phí lưới, phí dịch vụ, chi phí dự phòng và giá trị chứng chỉ được xác định minh bạch. Không nên chỉ nhìn vào giá điện tái tạo trong hợp đồng mà bỏ qua tổng chi phí để bảo đảm cung ứng điện liên tục cho sản xuất.
Tôi cũng đề nghị có hướng dẫn thống nhất về cách doanh nghiệp được công bố tỷ lệ sử dụng điện tái tạo, cách đối chiếu dữ liệu đo đếm với chứng chỉ và cách xử lý các hợp đồng kéo dài qua nhiều năm. Những vấn đề này càng rõ thì doanh nghiệp càng dễ ký kết, tổ chức kiểm toán và chứng minh các cam kết xanh với khách hàng.
Mở cơ hội tiếp cận cho doanh nghiệp nhỏ
-Theo đại biểu, trách nhiệm của cơ quan quản lý, đơn vị điện lực và tổ chức phát hành chứng chỉ cần được phân định ra sao để DPPA và REC vận hành đồng bộ? Cần giải pháp gì giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận điện xanh với chi phí hợp lý?
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh: Theo tôi, muốn DPPA và REC vận hành đồng bộ thì trước hết phải phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước, trách nhiệm vận hành hệ thống điện và trách nhiệm xác nhận thuộc tính môi trường. Đây là ba chức năng khác nhau, có liên hệ chặt chẽ nhưng không nên nhập làm một.
Cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng khung pháp lý, quy định điều kiện tham gia, phương pháp tính toán và giám sát thị trường; bảo đảm các bên được tiếp cận thông tin và đối xử công bằng. Đơn vị vận hành hệ thống và các đơn vị điện lực chịu trách nhiệm về đo đếm, giao nhận, vận hành lưới, cân bằng cung cầu, chất lượng và độ tin cậy của hệ thống theo chức năng được giao. Tổ chức phát hành hoặc quản lý chứng chỉ cần bảo đảm tính xác thực, khả năng truy xuất và nguyên tắc không ghi nhận trùng lặp thuộc tính môi trường.
Cần có cơ chế trao đổi dữ liệu giữa các chủ thể, trong đó dữ liệu đo đếm điện năng là cơ sở quan trọng để đối chiếu hợp đồng và chứng chỉ. Đồng thời, phải có quy trình giải quyết tranh chấp, xử lý sai lệch dữ liệu và trách nhiệm bồi hoàn khi một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ. Nếu thiếu những quy định này, doanh nghiệp sẽ phải tự xử lý các rủi ro nằm ngoài khả năng kiểm soát của mình.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, tôi cho rằng không thể chỉ thiết kế cơ chế điện xanh dựa trên khả năng đàm phán của những tập đoàn lớn có mức tiêu thụ điện cao. Doanh nghiệp nhỏ thường có nhu cầu điện thấp hơn, năng lực pháp lý và tài chính hạn chế, trong khi chi phí giao dịch, kiểm toán và xác minh có thể chiếm tỷ trọng đáng kể.
Một hướng cần nghiên cứu là cơ chế mua điện theo nhóm hoặc thông qua đơn vị đại diện, cho phép nhiều doanh nghiệp cùng tập hợp nhu cầu để đàm phán với nhà cung cấp. Có thể phát triển các sản phẩm điện xanh tiêu chuẩn, hợp đồng mẫu, nền tảng thông tin về nhà cung cấp và chứng chỉ, đồng thời giảm bớt thủ tục xác minh đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ mà vẫn bảo đảm tính tin cậy.
Bên cạnh đó, cần công khai tổng chi phí của từng phương án, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin và có lộ trình thực hiện phù hợp với yêu cầu của từng ngành hàng, từng thị trường xuất khẩu. Chính sách hỗ trợ không nhất thiết phải là trợ giá điện xanh cho tất cả doanh nghiệp, mà có thể tập trung giảm chi phí giao dịch, tăng khả năng tiếp cận hợp đồng và giúp doanh nghiệp hiểu đúng, chứng minh đúng mức độ sử dụng năng lượng tái tạo.
Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một thị trường mà doanh nghiệp có thể lựa chọn điện xanh theo khả năng và nhu cầu của mình, còn việc công bố sử dụng điện xanh phải dựa trên dữ liệu đáng tin cậy, có thể kiểm tra và không gây hiểu nhầm cho khách hàng.
Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực gồm 3 điều, trong đó Điều 1 có 30 khoản sửa đổi, tác động tới 51 điều của luật hiện hành, kể cả các chỉnh sửa từ ngữ và bãi bỏ quy định. Nội dung tập trung tháo gỡ thủ tục đầu tư, huy động vốn phát triển nguồn và lưới điện, hoàn thiện thị trường điện, cơ chế mua bán điện trực tiếp, chứng chỉ năng lượng tái tạo và chính sách giá.
Đồng thời, dự thảo đã đề cập hai nội dung gắn với nhu cầu điện xanh của doanh nghiệp gồm: hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp và xây dựng khung pháp lý cho thị trường chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC). Đáng chú ý, REC có thể được giao dịch độc lập với điện năng và mỗi chứng chỉ chỉ được sử dụng một lần để xác nhận thuộc tính năng lượng tái tạo. Các quy định này đặt nền tảng cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn điện tái tạo và xác nhận thuộc tính tái tạo của lượng điện tương ứng; điều kiện, chi phí và thủ tục thực hiện sẽ được Chính phủ quy định chi tiết.