Chồng cũ Hằng Du Mục bị khởi tố: Từng chung sống, chung kinh doanh có được quyền sử dụng thương hiệu sau ly hôn?
Việc ông Tôn Bằng, chồng cũ của TikToker Hằng Du Mục, bị khởi tố về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự, liên quan đến hoạt động kinh doanh táo đỏ mang nhãn hiệu “Hằng Du Mục”, đặt ra một vấn đề pháp lý đáng chú ý: Ranh giới giữa quyền khai thác thương hiệu, tranh chấp dân sự và trách nhiệm hình sự nằm ở đâu?
Tình nghĩa vợ chồng có thể kết thúc bằng một bản án ly hôn. Nhưng quyền sở hữu thương hiệu không được xác lập bằng tình cảm, càng không thể mặc nhiên tồn tại chỉ vì hai người từng cùng nhau kinh doanh.
Từng là vợ chồng không đồng nghĩa là đồng chủ sở hữu nhãn hiệu
Theo Điều 6 và Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền đối với nhãn hiệu thông thường được xác lập trên cơ sở văn bằng bảo hộ; chủ sở hữu được xác định theo căn cứ pháp luật tương ứng.
Một người từng góp vốn, bán hàng, quảng bá sản phẩm hoặc cùng vợ, chồng xây dựng thương hiệu không đương nhiên trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu.
Tuy nhiên, cũng không thể kết luận mọi quyền lợi kinh tế liên quan đều thuộc riêng người đứng tên văn bằng. Nếu nhãn hiệu là tài sản chung vợ chồng hoặc có thỏa thuận góp vốn, chuyển nhượng, cấp phép sử dụng, phải xem xét theo Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Sở hữu trí tuệ và chứng cứ cụ thể.
Đặc biệt, trong vụ việc này, thông tin công bố cho thấy nhãn hiệu “Hằng Du Mục” được đăng ký dưới tên ông Nguyễn Công Hảo. Vì vậy, quan hệ hôn nhân trước đây giữa Hằng Du Mục và ông Tôn Bằng không phải căn cứ tự thân làm phát sinh quyền sử dụng nhãn hiệu thuộc chủ thể khác.

Sử dụng nhãn hiệu trái phép chưa đương nhiên là tội phạm
Đây là ranh giới pháp lý quan trọng nhất.
Theo Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ liên quan, khi đáp ứng các điều kiện luật định, có thể bị xác định là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.
Nhưng không phải mọi hành vi xâm phạm nhãn hiệu đều cấu thành tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226 Bộ luật Hình sự.
Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi liên quan đến nhãn hiệu, cần chứng minh hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam, đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và đáp ứng các điều kiện về quy mô thương mại hoặc những ngưỡng định lượng luật định.
Theo khoản 2 Điều 226, cá nhân phạm tội thuộc trường hợp định khung có thể bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Điểm cần phân biệt: Hàng hóa sử dụng nhãn hiệu không được phép chưa chắc đã là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu theo Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ.
Việc xác định phải căn cứ vào dấu hiệu gắn trên hàng hóa, sự trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu được bảo hộ, loại hàng hóa, nguồn gốc sản phẩm và các yếu tố pháp lý liên quan.
Nếu không làm rõ yếu tố này mà chỉ dựa vào việc chủ sở hữu không đồng ý cho sử dụng thương hiệu thì chưa đủ cơ sở kết luận có tội theo Điều 226.
Từng được phép bán hàng có đồng nghĩa được quyền tiếp tục khai thác nhãn hiệu
Pháp luật phân biệt quyền sở hữu nhãn hiệu với quyền được chủ sở hữu cho phép sử dụng.
Một người có thể từng được giao bán sản phẩm chính hãng, nhưng điều đó không đồng nghĩa họ được tự đặt gia công, đóng gói hoặc đưa ra thị trường những sản phẩm mới mang cùng nhãn hiệu.
Ngược lại, cũng phải xem xét trường hợp hàng hóa chính hãng đã được chủ sở hữu hoặc người được phép đưa ra thị trường hợp pháp, bởi pháp luật có quy định giới hạn quyền ngăn cấm lưu thông đối với hàng hóa này.
Vì vậy, trong vụ án, cần làm rõ: ông Tôn Bằng có từng được phép sử dụng nhãn hiệu hay không; nếu có thì phạm vi, thời hạn và điều kiện sử dụng thế nào; hàng hóa bị phát hiện có nguồn gốc từ đâu; ai quyết định gắn nhãn hiệu; hành vi được thực hiện với nhận thức và mục đích gì.
Sự đồng ý trong quá khứ không phải giấy phép sử dụng thương hiệu vĩnh viễn. Nhưng việc quan hệ hôn nhân chấm dứt cũng không tự động làm mất hiệu lực của mọi quyền sử dụng nhãn hiệu đã được xác lập hợp pháp.

Góc nhìn luật sư
Theo tôi, điều đáng suy ngẫm từ vụ việc không nằm ở việc hai người từng là vợ chồng, mà ở cách pháp luật phân định quyền tài sản và trách nhiệm hình sự khi một mối quan hệ cá nhân, kinh doanh chấm dứt.
Một thương hiệu có thể được gây dựng bằng công sức của nhiều người, nhưng quyền sở hữu và quyền khai thác phải được xác định bằng căn cứ pháp luật. Không thể lấy tình cảm trong quá khứ để hợp pháp hóa việc sử dụng tài sản trí tuệ của người khác.
Tuy nhiên, cũng không thể lấy một tranh chấp về quyền sử dụng nhãn hiệu làm căn cứ mặc nhiên truy cứu trách nhiệm hình sự. Muốn xử lý theo Điều 226, phải chứng minh đầy đủ dấu hiệu của tội phạm, chứ không chỉ chứng minh có sự bất đồng về quyền sử dụng thương hiệu.
Đặc biệt, việc bị khởi tố, bắt tạm giam không đồng nghĩa đã có tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự phải được tôn trọng cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
Vụ việc cũng là bài học đối với những gia đình cùng kinh doanh, những người nổi tiếng và các doanh nghiệp hợp tác khai thác thương hiệu cá nhân: hãy xác lập rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền cấp phép và cơ chế xử lý khi quan hệ hợp tác chấm dứt.
Bởi khi tình cảm không còn, pháp luật sẽ không hỏi hai người đã từng yêu thương nhau thế nào, mà hỏi ai có quyền gì, quyền ấy được xác lập ra sao và đã có hành vi xâm phạm nào được chứng minh.
“Ly hôn có thể chấm dứt quan hệ vợ chồng, nhưng không tự động trao hoặc tước quyền sở hữu trí tuệ. Và xâm phạm nhãn hiệu có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý, nhưng muốn kết tội phải chứng minh đầy đủ cấu thành tội phạm.”
Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền
CÔNG TY LUẬT HPL VÀ CỘNG SỰ
HPL & PARTNERS LAW FIRM















