Thứ hai, 19/10/2026, 20:17 (GMT+7)

Viện trưởng Lê Nguyễn Thiên Nga: Bài học từ nghiên cứu chính sách Pakistan khai phá thị trường Halal 10.000 tỷ USD

Bước sang quý IV năm 2026, dòng chảy thương mại toàn cầu đang ghi nhận sự dịch chuyển mạnh mẽ hướng tới các tiêu chuẩn bền vững.

Trong bức tranh đó, nền kinh tế Halal toàn cầu không còn là một thị trường ngách mang tính tôn giáo thuần túy, mà đã phát triển thành một không gian kinh tế khổng lồ quy mô gần 8.000 tỷ USD và đang tăng tốc hướng tới mốc 10.000 tỷ USD vào giai đoạn 2028–2030 (trong đó riêng lĩnh vực thực phẩm và đồ uống Halal đạt quy mô xấp xỉ 2.000 tỷ USD).

THIEN NGA

Với hơn 2,05 tỷ người tiêu dùng Hồi giáo (chiếm trên 25% dân số thế giới) cùng hàng trăm triệu người tiêu dùng tại các nền kinh tế phát triển ưa chuộng tiêu chuẩn an toàn và đạo đức của thực phẩm Halal, đây là "mảnh đất màu mỡ" mang tính chiến lược cho các quốc gia xuất khẩu nông sản và dịch vụ.

THIEN NGA1

Đáng chú ý, các quốc gia chiếm lĩnh thị phần xuất khẩu sản phẩm Halal hàng đầu thế giới hiện nay phần lớn lại là các nước phi Hồi giáo như Thái Lan, Ấn Độ, Brazil hay Australia. Trong khi đó, Việt Nam – quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên nông - lâm - thủy sản trù phú cùng lợi thế du lịch biển vượt trội – mới chỉ khai thác được chưa đầy 1% nhu cầu nhập khẩu nông sản, thực phẩm của khối các nước Hồi giáo (OIC).

Điểm nghẽn thể chế và khoảng trống thị phần của Việt Nam

Việt Nam sở hữu lợi thế tự nhiên to lớn về chuỗi cung ứng các mặt hàng nông sản nhiệt đới như chè, hạt tiêu, điều, cà phê, gạo, trái cây cùng các sản phẩm thủy hải sản chất lượng cao. Bên cạnh đó, hệ sinh thái du lịch biển và văn hóa phong phú tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Nghệ An, Đà Nẵng, Khánh Hòa hay Phú Quốc sở hữu sức hút tự nhiên rất lớn đối với dòng khách quốc tế.

THIEN NGA2

Tuy nhiên, dù tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang khối OIC đạt khoảng 10 – 12 tỷ USD mỗi năm, phần lớn giá trị này vẫn thuộc về nhóm hàng điện tử, dệt may và máy móc. Xuất khẩu nông - thủy sản đạt chuẩn Halal thực tế mới chỉ dao động quanh mức 1,5 – 2 tỷ USD/năm. Nghịch lý này bắt nguồn từ hai điểm nghẽn căn bản:

Thiếu hụt hệ thống chứng nhận đạt chuẩn thừa nhận lẫn nhau (MRA): Tiêu chuẩn Halal có sự phân mảnh sâu sắc theo từng quốc gia và khu vực. Việc doanh nghiệp Việt Nam có chứng chỉ Halal được cấp trong nước nhưng chưa có thỏa thuận công nhận lẫn nhau với cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu khiến hàng hóa bị ách tắc ngay tại cửa khẩu.

Thiếu hụt hạ tầng logistics và chuỗi cung ứng chuyên biệt: Bản chất cốt lõi của quy chuẩn Halal đòi hỏi tính nguyên vẹn và tuyệt đối không nhiễm chéo (cross-contamination) – nghĩa là thực phẩm, nguyên liệu Halal không được tiếp xúc, chế biến, bảo quản hay vận chuyển chung với các chất cấm (Haram) theo luật Hồi giáo. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chế biến trên dây chuyền dùng chung và sử dụng hệ thống kho vận hỗn hợp, dẫn đến rủi ro bị từ chối cấp chứng nhận hoặc bị trả lại toàn bộ lô hàng.

Bài học từ đối thoại chính sách với các Bộ trưởng Pakistan

Từ thực tiễn chủ trì các phiên chiến lược Vòng tròn Chính sách, trong đó có Bộ trưởng Thương mại Pakistan cùng Đại sứ quán Pakistan tại Việt Nam, bài học lớn nhất được Đề án Từ Chính sách ra Cuộc sống khuyến nghị xuyên suốt là: muốn mở rộng thị trường Halal, Việt Nam cần kết nối năng lực doanh nghiệp với cơ chế hợp tác thể chế giữa các quốc gia. Vai trò "mở đường" của các cơ quan quản lý nhà nước mang tính quyết định và dẫn dắt, bởi viện, trường hay doanh nghiệp tư nhân đơn lẻ không thể tự tháo gỡ các rào cản kỹ thuật và hiệp định thương mại song phương.

THIEN NGA3

Các cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc làm rõ quy định, thúc đẩy công nhận tiêu chuẩn, xử lý các rào cản kỹ thuật và tạo khuôn khổ thuận lợi cho thương mại. Trong khi đó, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức chứng nhận, hiệp hội và doanh nghiệp có thể đóng góp dữ liệu, bằng chứng thực tiễn, giải pháp kỹ thuật và năng lực triển khai.

THIEN NGA4

Đây cũng là tinh thần của cách tiếp cận “Từ Chính sách ra Cuộc sống”: bắt đầu từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường, chuyển hóa thành dữ liệu và bằng chứng, hình thành kiến nghị chính sách, kết nối nguồn lực thực hiện, sau đó đo lường tác động và tiếp tục hoàn thiện chính sách.

Pakistan – Cửa ngõ Nam Á hơn 240 triệu dân và tâm điểm kết nối Trung Á

Pakistan là quốc gia có dân số Hồi giáo lớn thứ hai thế giới (trên 240 triệu người), với hệ thống quản lý kiểm định Halal chặt chẽ thông qua Cơ quan Quản lý Halal Quốc gia Pakistan (PHA - Pakistan Halal Authority) trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Pakistan. Qua các phiên làm việc chính sách cấp cao, phía bạn khẳng định nhu cầu nhập khẩu đối với chè, hạt tiêu, cao su tự nhiên, sợi dệt may và thủy hải sản từ Việt Nam là rất lớn và có tính bổ trợ trực tiếp cho chuỗi cung ứng của Pakistan.

THIEN NGA5

Rào cản lớn của hàng Việt Nam sang Pakistan lâu nay là thiếu chứng nhận đạt chuẩn của PHA và chưa có thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) về chứng nhận Halal giữa hai nước. Nếu tháo gỡ được nút thắt này, Pakistan không chỉ là thị trường tiêu thụ trực tiếp hàng tỷ USD nông sản Việt, mà còn đóng vai trò là cửa ngõ trung chuyển chiến lược kết nối hàng hóa Việt Nam tiến sâu vào không gian kinh tế các nước Trung Á (Central Asia).

Giá trị chiến lược dài hạn đến từ khả năng kết nối với các hành lang thương mại hướng tới Trung Á, nơi việc tiếp cận thị trường phụ thuộc đáng kể vào điều kiện quá cảnh, kết nối vận tải, chi phí logistics và cơ chế thương mại giữa các quốc gia liên quan.

Kinh nghiệm ứng phó với các thị trường tiêu chuẩn khắt khe khác

Song song với Pakistan, bức tranh hội nhập Halal toàn cầu đòi hỏi sự tiếp cận đồng bộ theo từng phân vùng:

Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia): Indonesia hiện áp dụng lộ trình bắt buộc toàn diện đối với thực phẩm, đồ uống nhập khẩu phải có chứng chỉ được Cơ quan Quản lý Bảo đảm Sản phẩm Halal (BPJPH) công nhận; Malaysia kiểm soát thông qua Cục Phát triển Hồi giáo Malaysia (JAKIM) – tổ chức có chuẩn mực kỹ thuật và quy trình thanh sát thực địa khắt khe hàng đầu thế giới.

Khối Vùng Vịnh (GCC): Các thị trường như UAE và Ả Rập Xê Út có sức mua đáng chú ý, nhưng cũng đặt ra các yêu cầu cụ thể về tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp, an toàn thực phẩm, phụ gia, kiểm dịch và quản lý hàng hóa nhập khẩu. Các cơ quan như MoIAT tại UAE, SASO và SFDA tại Ả Rập Xê Út đảm nhiệm những chức năng khác nhau trong hệ thống quản lý tiêu chuẩn, sự phù hợp và sản phẩm. Vì vậy, không thể xem một chứng nhận Halal đơn lẻ là điều kiện đủ để hàng hóa tiếp cận toàn bộ thị trường GCC.

Bài học chung là cần chuyển từ tư duy “một chứng nhận cho nhiều thị trường” sang cách tiếp cận quản trị danh mục thị trường, xác định tiêu chuẩn đích và tổ chức chuỗi cung ứng phù hợp. Pakistan có ý nghĩa như một hướng kết nối bổ sung, nhưng không thay thế việc xây dựng năng lực tiếp cận trực tiếp các thị trường Halal trọng điểm khác.

Định hướng hoàn thiện thể chế và kiến tạo chính sách phát triển ngành Halal Việt Nam

Để hiện thực hóa hiệu quả Đề án "Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030" ban hành theo Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 14/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời đưa Nghị định số 127/2026/NĐ-CP (về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal, có hiệu lực từ ngày 01/06/2026) đi vào cuộc sống, các cơ quan hữu quan cần tập trung vào ba đột phá chính sách trọng tâm:

Hoàn thiện hành lang pháp lý và đẩy nhanh công nhận tương hỗ chuẩn Halal quốc tế (MRA):

Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao để khẩn trương đàm phán, ký kết các Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA). Trọng tâm trước mắt là thiết lập cơ chế công nhận song phương với Pakistan Halal Authority (PHA) của Pakistan, BPJPH của Indonesia, JAKIM của Malaysia và SASO/SFDA của Ả Rập Xê Út. Đạt được MRA sẽ giúp chứng chỉ Halal cấp tại Việt Nam có giá trị thông quan thẳng, loại bỏ chi phí kiểm định kép và giải tỏa rủi ro thương mại cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Quy hoạch và ưu đãi đầu tư hạ tầng Halal chuyên biệt (Halal Hubs):

Hiện thực hóa các cơ chế hỗ trợ tài chính, tín dụng và quỹ đất theo Nghị định 127/2026/NĐ-CP nhằm hình thành các cụm công nghiệp chế biến nông - thủy sản chuẩn Halal tập trung tại các vùng nguyên liệu trọng điểm (Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung). Các trung tâm này cần được thiết kế dây chuyền sản xuất độc lập, kho bãi logistics lạnh khép kín nhằm bảo đảm tính tinh khiết, loại trừ hoàn toàn nguy cơ nhiễm chéo (cross-contamination) từ đồng ruộng, nhà xưởng chế biến tới khâu đóng container và vận tải biển. Đồng thời, tận dụng tối đa nguồn kinh phí từ Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại để định vị thương hiệu Halal quốc gia tại các hội chợ, triển lãm chuyên ngành quốc tế.

Chuẩn hóa hệ sinh thái dịch vụ và du lịch thân thiện với người Hồi giáo (Muslim-friendly Tourism):

Cần sớm ban hành và phổ biến bộ tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) đối với dịch vụ lưu trú, ẩm thực (bếp ăn chuẩn Halal), không gian cầu nguyện (Musalla) và tiện ích phụ trợ tại các trung tâm du lịch giàu tiềm năng như Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Nghệ An, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Phú Quốc.

Việc phát triển dịch vụ thân thiện với người Hồi giáo cần được thực hiện trên cơ sở phân biệt rõ giữa dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách Hồi giáo và dịch vụ được chứng nhận Halal theo quy định. Cách tiếp cận minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp tránh quảng bá vượt quá phạm vi chứng nhận, đồng thời nâng cao niềm tin của khách hàng và đối tác quốc tế.

Song song với phát triển du lịch, Việt Nam cần kết nối hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ chuyên ngành, thương mại điện tử và các chương trình kết nối nhà nhập khẩu nhằm hình thành hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu Halal.

THIEN NGA6

Từ nghiên cứu chính sách đến năng lực cạnh tranh quốc gia

Từ bài học Pakistan, có thể thấy việc mở cửa thị trường cần được triển khai đồng thời trên ba phương diện: tạo thuận lợi thể chế giữa các quốc gia, tổ chức chuỗi cung ứng đáp ứng tiêu chuẩn và xây dựng phương án tiếp cận thị trường có hiệu quả kinh tế thực tế. Việc kết nối cảng biển, cơ chế quá cảnh và các hành lang vận tải hướng tới Trung Á là một hướng nghiên cứu đáng chú ý, nhưng cần được kiểm chứng bằng các tuyến vận hành cụ thể, chi phí thực tế và điều kiện pháp lý của từng quốc gia.

Thích ứng và khai phá thị trường Halal 10.000 tỷ USD không đơn thuần là bài toán mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản thuần túy, mà là một chiến lược nâng cấp toàn diện chuỗi giá trị sản xuất và dịch vụ quốc gia. Bằng việc chủ động kết nối thể chế cấp cao, xây dựng hạ tầng kiểm định tương thích quốc tế và hình thành hệ sinh thái Halal đồng bộ, Việt Nam kì vọng chuyển hóa các lợi thế nông nghiệp và du lịch sẵn có thành sức mạnh cạnh tranh toàn cầu.

Lê Nguyễn Thiên Nga, Viện trưởng Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển, Chủ nhiệm Đề án "Từ Chính sách ra Cuộc sống"

Mạnh Huyền

Thứ hai, 19/10/2026, 16:36 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

Nổi bật

Mới nhất