Thủ tướng yêu cầu nghiên cứu nâng dự trữ xăng dầu lên 90 ngày nhập khẩu
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động, Thủ tướng yêu cầu nghiên cứu phương án nâng dự trữ xăng dầu lên mức tối thiểu 90 ngày nhập khẩu. Với quy mô nhập khẩu hiện nay, Việt Nam có thể cần dự trữ khoảng 2,5 triệu tấn xăng dầu.

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 113 về kết luận của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại cuộc họp Tổ công tác bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh xung đột Trung Đông diễn biến phức
tạp. Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương phối hợp Bộ Ngoại giao và Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam đẩy nhanh đàm phán với các đối tác như Kuwait, Nhật Bản và Nga nhằm bảo đảm nguồn
dầu thô cho các nhà máy lọc dầu từ tháng 5/2026. Đồng thời, các doanh nghiệp đầu mối được yêu cầu chủ động nhập khẩu, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước và duy trì mức dự trữ theo quy
định.
Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan, năm 2025 Việt Nam nhập khẩu khoảng 9,958 triệu tấn xăng dầu, trị giá hơn 6,8 tỷ USD, tương đương khoảng 27.300 tấn mỗi ngày. Với mức nhập khẩu này, nếu áp dụng mục tiêu dự trữ tối thiểu 90 ngày, lượng xăng dầu cần dự trữ sẽ vào khoảng 2,4–2,5 triệu tấn.
Ngoài xăng dầu thành phẩm, Việt Nam còn nhập khẩu lượng lớn năng lượng đầu vào cho sản xuất. Năm 2025, nước ta nhập khoảng 14,1 triệu tấn dầu thô trị giá 7,7 tỷ USD và 3,6 triệu tấn LPG trị giá 2,1 tỷ USD. Như vậy, riêng ba nhóm năng lượng chủ chốt gồm xăng dầu, dầu thô và LPG đã tiêu tốn gần 17 tỷ USD, cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung bên ngoài.
Hiện nguồn cung xăng dầu trong nước được bảo đảm khoảng 68% nhờ hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất. Tuy nhiên, nguyên liệu đầu vào của các nhà máy này vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Nghi Sơn nhập khoảng 70–80% dầu thô từ Kuwait, trong khi Dung Quất nhập khoảng 30–35% từ các khu vực như Tây Phi, Địa Trung Hải, Mỹ và Trung Đông. Điều này đồng nghĩa thị trường năng lượng trong nước vẫn chịu tác động khi các tuyến vận tải chiến lược như eo biển Hormuz gặp gián đoạn.
Hiện hệ thống dự trữ xăng dầu của Việt Nam được hình thành từ ba nguồn chính: dự trữ thương mại tại doanh nghiệp đầu mối khoảng 20 ngày, dự trữ của thương nhân phân phối khoảng 5 ngày và dự trữ quốc gia khoảng 7 ngày. Phần lớn lượng tồn kho hiện nằm tại các doanh nghiệp đầu mối như Petrolimex hay PVOIL, trong khi hệ thống kho dự trữ chiến lược do Nhà nước trực tiếp quản lý vẫn còn hạn chế.
So với nhiều nền kinh tế lớn, mức dự trữ xăng dầu của Việt Nam hiện thấp hơn đáng kể. Các quốc gia như Mỹ hay Nhật Bản thường duy trì dự trữ tương đương tối thiểu 90 ngày nhập khẩu nhằm phòng ngừa rủi ro gián đoạn nguồn cung. Tuy nhiên, Việt Nam có lợi thế nằm gần các trung tâm cung ứng nhiên liệu lớn như Singapore và Malaysia, giúp thời gian vận chuyển xăng dầu về nước tương đối ngắn.
Trong dài hạn, Chính phủ đang quy hoạch hệ thống dự trữ năng lượng chiến lược gắn với các trung tâm lọc hóa dầu và hạ tầng cảng biển. Một dự án trọng điểm là kho dự trữ dầu thô quốc gia tại Khu kinh tế Nghi Sơn (Thanh Hóa) với diện tích khoảng 140 ha và sức chứa khoảng 1 triệu tấn. Các kho tương tự cũng được định hướng phát triển tại Dung Quất và Bà Rịa – Vũng Tàu, hình thành mạng lưới dự trữ năng lượng từ Bắc vào Nam.
Hiện tổng mức dự trữ xăng dầu của Việt Nam, bao gồm lưu thông, sản xuất và dự trữ quốc gia, đạt khoảng 65 ngày nhập khẩu ròng. Tuy nhiên, phần dự trữ quốc gia thực tế mới chỉ tương đương khoảng 5–7 ngày. Việc mở rộng hệ thống kho dự trữ chiến lược được kỳ vọng sẽ nâng cao khả năng ứng phó với biến động thị trường năng lượng toàn cầu và củng cố an ninh năng lượng trong dài hạn.
Vương Anh











