Sau 1 năm Mỹ áp thuế, ASEAN thích ứng ra sao?
Sau một năm Mỹ áp thuế cơ bản 10% lên phần lớn hàng nhập khẩu, ASEAN đã phần nào vượt qua cú sốc ban đầu nhờ các biện pháp tạm thời, nhưng những thay đổi cấu trúc về chuỗi cung ứng và rủi ro dài hạn vẫn đang dần bộc lộ.

Sau một năm Mỹ áp thuế cơ bản 10% lên phần lớn hàng nhập khẩu, cùng các mức thuế đối ứng theo thặng dư thương mại, khu vực ASEAN đã phần nào vượt qua cú sốc ban đầu. Các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các biện pháp tạm thời như đẩy nhanh giao hàng, trì hoãn thuế và tận dụng miễn trừ theo ngành để duy trì xuất khẩu.
Tuy nhiên, dù một số mức thuế đã bị Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ, tác động thực tế đối với doanh nghiệp trong khu vực vẫn không thay đổi đáng kể. Mỹ đang chuyển sang các công cụ khác như điều tra theo Mục 301 do Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ triển khai, mở ra khả năng áp thêm các rào cản thương mại mới.
Theo bà Runchana Pongsaparn, chuyên gia kinh tế trưởng tại Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô ASEAN+3 (AMRO), tác động của chính sách thuế chưa được cảm nhận đầy đủ và sẽ xuất hiện dần thông qua nhu cầu bên ngoài suy yếu, chi phí chuỗi cung ứng gia tăng và xu hướng đầu tư thận trọng hơn.
Tại Thái Lan, xuất khẩu sang Mỹ vẫn tăng hơn 30% trong năm 2025, trong đó thị trường Mỹ chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch. Tuy nhiên, khoảng một nửa hàng xuất khẩu vẫn chịu thuế đối ứng, khiến đà tăng có dấu hiệu chậm lại khi các yếu tố “đẩy sớm đơn hàng” dần suy yếu.
Đáng chú ý, nguy cơ bị siết kiểm soát trung chuyển đang gia tăng khi Mỹ có thể áp thuế tới 40% với các sản phẩm có dấu hiệu “lách thuế”. Chính phủ Thái Lan đã xác định 49 nhóm hàng, chủ yếu là điện tử, có nguy cơ cao bị ảnh hưởng nếu các biện pháp này được triển khai.

Tại Indonesia, nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu thông qua thỏa thuận thương mại song phương với Mỹ đang rơi vào trạng thái bất định. Thỏa thuận liên quan tới 1.819 mặt hàng, bao gồm dầu cọ, cà phê và linh kiện điện tử, hiện bị đình trệ sau khi Mỹ mở các cuộc điều tra mới và cơ chế thuế nền tảng bị bác bỏ.
Một số chuyên gia cảnh báo Indonesia có thể đối mặt rủi ro khi phải điều chỉnh chính sách trong nước nhưng lợi ích nhận lại không tương xứng. Ngoài ra, các điều khoản trong thỏa thuận có thể tạo ra nghĩa vụ áp dụng các biện pháp hạn chế tương tự đối với nước thứ ba.
Singapore ghi nhận tăng trưởng kinh tế 4,8% trong năm 2025 và phần lớn tránh được tác động trực tiếp từ thuế quan. Tuy nhiên, vai trò trung tâm trung chuyển của nước này đang đối mặt rủi ro khi các quy định chống né thuế có thể làm tăng chi phí tuân thủ và làm thay đổi dòng chảy thương mại.
Tại Philippines, xuất khẩu năm 2025 tăng 15,2%, trong đó xuất khẩu sang Mỹ tăng 10%, nhờ các mặt hàng như chất bán dẫn (chiếm 43% kim ngạch) được miễn thuế. Tuy nhiên, hiệu ứng đẩy sớm đơn hàng được dự báo sẽ suy giảm trong năm 2026, trong khi cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Mỹ có thể gia tăng.
Với Việt Nam, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm khoảng 1/3 tổng kim ngạch. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đang chủ động đa dạng hóa thị trường sang châu Âu và châu Á, đồng thời điều chỉnh chuỗi cung ứng để đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn và giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.
Nhìn chung, sau một năm áp thuế, ASEAN đã thích ứng bước đầu nhưng những thay đổi mang tính cấu trúc mới chỉ bắt đầu. Trong bối cảnh Mỹ chuyển sang các công cụ thương mại khó đoán định hơn, rủi ro dài hạn đối với xuất khẩu và chuỗi cung ứng của khu vực vẫn còn hiện hữu.
Vương Anh










