Thứ sáu, 08/05/2026, 10:42 (GMT+7)

Xuất khẩu thép 4 tháng đầu năm tăng 2,65% về lượng và tăng 2,98% về trị giá

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thép của Việt Nam ước đạt 3,94 triệu tấn và trị giá 2,57 tỷ USD, tăng 2,65% về lượng và tăng 2,98% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Theo số liệu từ Cục Thống kê, ngành thép Việt Nam ghi nhận tín hiệu tích cực trong 4 tháng đầu năm 2026 với sự tăng trưởng đồng bộ về cả sản lượng và giá trị xuất khẩu. Đáng chú ý, mặt bằng giá thép xuất khẩu sau giai đoạn biến động đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục rõ rệt vào tháng 4.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thép của Việt Nam ước đạt 3,94 triệu tấn, thu về 2,57 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng thép xuất khẩu tăng 2,65% và trị giá tăng 2,98%. Giá thép xuất khẩu trung bình trong giai đoạn này ước đạt 651 USD/tấn, nhích nhẹ 0,32% so với cùng kỳ năm trước.

Riêng trong tháng 4/2026, dù sản lượng xuất khẩu đạt khoảng 1 triệu tấn (giảm 2,85% so với tháng 3) nhưng trị giá lại đạt 706,2 triệu USD, tăng 1,21%. Điểm sáng lớn nhất là giá sắt thép xuất khẩu trung bình trong tháng 4 ước đạt 706 USD/tấn, tăng 4,18% so với tháng 3/2026 và tăng 8,81% so với tháng 4/2025.

Xuất khẩu thép 4 tháng đầu năm tăng 2,65% về lượng và tăng 2,98% về trị giá- Ảnh 1.

ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong quý I/2026, chiếm 37,23% tỷ trọng trong tổng lượng thép xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu sắt thép của Việt Nam sang thị trường ASEAN trong quý I/2026 đạt gần 1,1 triệu tấn, trị giá 632,3 triệu USD, tăng 18,16% về lượng và tăng 14,76% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Tăng trưởng chủ yếu đến từ Indonesia và Malaysia với mức tăng cao (tăng 36,51% và 30,96% về lượng) so với cùng kỳ năm 2025, trong khi Campuchia duy trì quy mô lớn và tăng trưởng ổn định (tăng 6,81% về lượng). Đáng chú ý, Philippines ghi nhận mức tăng đột biến (tăng 817,98% về lượng) so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh xu hướng mở rộng thị trường nhưng tiềm ẩn rủi ro về tính bền vững.

Ngược lại, xuất khẩu sang Lào và Singapore giảm mạnh (giảm 30,76% và 90,46% về lượng) so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy sự thu hẹp ở một số thị trường nhỏ. Nhìn chung, ASEAN tiếp tục là bệ đỡ quan trọng, song đã xuất hiện dấu hiệu phân hóa rõ rệt trong nội khối.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu thép lớn thứ hai của Việt Nam trong quý I/2026, đạt 463,77 nghìn tấn, trị giá 259,88 triệu USD, tăng 32,72% về lượng và 24,24% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá sắt thép xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ quý I/2026 đạt 560 USD/tấn, giảm 6,39% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy nhu cầu thép tại Hoa Kỳ cải thiện, đồng thời thép Việt Nam vẫn duy trì được năng lực cạnh tranh trong bối cảnh còn tồn tại các rào cản thương mại. Đây là thị trường lớn có mức tăng trưởng tích cực nhất ngoài ASEAN trong quý I/2026.

Trái ngược với đà tăng tại ASEAN và Mỹ, thị trường EU lại cho thấy sự suy yếu. Xuất khẩu sang EU trong quý I/2026 đạt 460,97 nghìn tấn, giảm 8,6% về lượng và giảm 17,64% về trị giá. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ tại châu Âu thấp và các biện pháp phòng vệ thương mại khắt khe.

Đáng chú ý, các thị trường mới nổi như Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ đang trở thành điểm đến tiềm năng mới. Xuất khẩu sang Ấn Độ tăng 83,55% về lượng với mức giá xuất khẩu rất cao, đạt trung bình 1.127 USD/tấn. Thổ Nhĩ Kỳ cũng ghi nhận mức tăng trưởng sản lượng lên tới 177,37%.

Huyền My (t/h)

Thứ sáu, 08/05/2026, 10:12 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

/ Tin liên quan

/ Nổi bật

/ Mới nhất