Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư
Nhu cầu vốn đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2026-2030 ước lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực tư nhân được kỳ vọng đóng góp gần 2/3. Điều này đặt ra yêu cầu phát triển mạnh thị trường vốn để chia sẻ vai trò dẫn vốn với hệ thống ngân hàng.
Bài toán huy động nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi cấu trúc thị trường tài chính, khi hệ thống ngân hàng không còn nhiều dư địa để tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế. Đây là thông điệp được nhiều chuyên gia đưa ra tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" diễn ra ngày 23/7.
Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, để duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030. Trong tổng nhu cầu này, khu vực tư nhân được kỳ vọng đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương 65%, trong khi vốn nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng và vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng.

Theo ông Lực, bài toán hiện nay không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải mở rộng các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng. Thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư và các định chế tài chính phi ngân hàng cần được phát triển đồng bộ để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy tín dụng vẫn là nguồn cung vốn chủ yếu. Theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), đến ngày 13/7, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025. Chỉ sau hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng tín dụng cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, cùng với đà tăng của tín dụng, áp lực lên hệ thống ngân hàng cũng ngày càng lớn. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 ước khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên khoảng 145%. Đáng chú ý, các ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn nhưng phải đáp ứng nhu cầu vay trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm, làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn.

Ở góc độ thị trường vốn, ông Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (VSDC), cho biết quy mô tín dụng hiện tương đương khoảng 146% GDP, trong khi vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt khoảng 82% GDP. Theo ông, vấn đề không nằm ở việc tín dụng quá lớn mà là thị trường vốn vẫn chưa đủ quy mô để chia sẻ vai trò cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng.
Ông Sơn cũng chỉ ra nghịch lý khi kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh trong nửa đầu năm nhưng thị trường chứng khoán chưa phản ánh tương xứng. Nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành nền tảng vẫn ghi nhận giá cổ phiếu suy giảm, khiến thị trường chưa thực sự phát huy vai trò là kênh huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp.

Để khắc phục tình trạng này, các chuyên gia kiến nghị đẩy nhanh cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại những lĩnh vực không cần nắm giữ, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân IPO, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời mở rộng hệ sinh thái các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư bất động sản, tài chính xanh và tài chính số. Cùng với đó, việc nâng hạng thị trường chứng khoán và cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa thu hút dòng vốn trong và ngoài nước.
Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổng giá trị huy động vốn qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 325.300 tỷ đồng, tăng gần 16% so với cùng kỳ năm trước. Dù quy mô huy động tiếp tục cải thiện, các chuyên gia cho rằng thị trường vốn vẫn cần được phát triển mạnh hơn để trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế.
Mạnh Huyền












