Bộ Tài chính bổ sung một số điều về hạch toán thuế giao dịch tiền mã hoá
Cơ quan quản lý vừa bổ sung các tiểu mục riêng để hạch toán thuế từ giao dịch, chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa vào ngân sách Nhà nước.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 123/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 130/2025/TT-BTC về Hệ thống Mục lục ngân sách Nhà nước. Thông tư có hiệu lực từ ngày 21/8/2026.
Cụ thể, Bộ Tài chính bổ sung Tiểu mục 1016 “Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa” thuộc Mục 1000 “Thuế thu nhập cá nhân”. Tiểu mục 1059 “Thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa” được bổ sung vào Mục 1050 về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Như vậy, các khoản thuế phát sinh từ hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa đã được tách thành các tiểu mục riêng trong hệ thống hạch toán ngân sách Nhà nước.
Thông tư 123/2026/TT-BTC đồng thời bổ sung Tiểu mục 4954 về tiền chậm nộp thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa và Tiểu mục 4955 về tiền chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động này.
Nội dung Tiểu mục 4917 về “Tiền chậm nộp thuế thu nhập cá nhân” được sửa thành “Tiền chậm nộp thuế thu nhập cá nhân (không bao gồm tiền chậm nộp thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa)".
Tương tự, Tiểu mục 4918 về tiền chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cũng tách riêng phần phát sinh từ hoạt động tài sản mã hóa.
Việc bổ sung các mã thu ngân sách riêng không đồng nghĩa Thông tư 123/2026/TT-BTC tạo ra một sắc thuế mới đối với các loại tài sản mã hóa. Chính sách thuế đối với lĩnh vực này đã được quy định tại các văn bản trước đó.
Nền tảng pháp lý cho thị trường tài sản mã hóa được thiết lập tại Nghị quyết 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025, đưa tài sản mã hóa vào khuôn khổ quản lý chính thức và giao Bộ Tài chính hướng dẫn chính sách thuế.
Ngày 27/3/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 32/2026/TT-BTC, quy định thuế đối với giao dịch, chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa. Theo đó, các hoạt động này không chịu thuế GTGT; cá nhân chịu thuế TNCN 0,1% trên giá chuyển nhượng mỗi lần giao dịch. Tổ chức trong nước chịu thuế TNDN 20% trên thu nhập chịu thuế, trong khi tổ chức nước ngoài chuyển nhượng tại Việt Nam chịu mức 0,1% trên doanh thu mỗi lần giao dịch.
Việc Thông tư 123/2026/TT-BTC bổ sung các tiểu mục thu riêng cho tài sản mã hóa cho thấy cơ chế quản lý tiếp tục được hoàn thiện, đồng thời tạo cơ sở để theo dõi, hạch toán riêng các khoản thuế và tiền chậm nộp phát sinh từ lĩnh vực này.
Thảo Vân














