Vingroup, Masterise và Thaco đề xuất vay 955.000 tỷ đồng cho 17 dự án
Trong tháng 7/2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp nhận kiến nghị của Vingroup, Masterise và Thaco về cơ chế tín dụng cho 17 dự án, với tổng nhu cầu vốn vay dự kiến khoảng 955.000 tỷ đồng.

Tại báo cáo phục vụ cuộc họp giải quyết khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận tín dụng do Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chủ trì sáng 10/8, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai các giải pháp tạo điều kiện tín dụng cho doanh nghiệp thực hiện những dự án lớn, trọng điểm, có tính lan tỏa và liên kết.
Theo đó, trong tháng 7/2026, cơ quan này tiếp tục nhận được văn bản kiến nghị của Vingroup, Masterise và Thaco về cơ chế tín dụng cho tổng cộng 17 dự án. Nhu cầu vốn vay dự kiến của các dự án này khoảng 955.000 tỷ đồng, trong đó Vingroup có 3 dự án, Masterise 6 dự án và Thaco 8 dự án.
Sau khi nhận được kiến nghị, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Công văn số 6601/NHNN-TD gửi Vingroup, Công văn số 6602/NHNN-TD gửi Masterise và Công văn số 6603/NHNN-TD gửi Thaco. Theo hướng xử lý, các doanh nghiệp sẽ chủ động làm việc với ngân hàng thương mại để được xem xét cấp tín dụng theo đúng quy định pháp luật.
Trên cơ sở nhu cầu vốn và kế hoạch giải ngân từng dự án do các ngân hàng thương mại báo cáo, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng tham gia cấp vốn. Cách tiếp cận này cho phép nhu cầu vốn của từng dự án được đánh giá gắn với khả năng giải ngân thực tế, thay vì ngân hàng Nhà nước trực tiếp phân bổ một khoản tín dụng cố định cho doanh nghiệp.
Đây không phải lần đầu nhu cầu vốn quy mô lớn từ các tập đoàn được đưa ra xem xét. Trong tháng 6, Ngân hàng Nhà nước đã xử lý kiến nghị liên quan đến 18 dự án của Vingroup, Sun Group và Masterise, với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 752.000 tỷ đồng.
Theo cơ quan quản lý, bước đầu một số vướng mắc liên quan đến hạn mức tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn đã được tháo gỡ khi các ngân hàng thương mại xem xét nhu cầu vốn đối với 18 dự án này. Qua đó, bài toán tín dụng cho các dự án lớn đang được xử lý theo hướng gắn với từng nhu cầu và tiến độ thực tế.
Như vậy, đến cuối tháng 7, Vingroup, Sun Group, Masterise và Thaco đã kiến nghị cơ chế tín dụng cho 35 dự án, với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 1,707 triệu tỷ đồng. Đây là nhu cầu vốn được các doanh nghiệp nêu trong hồ sơ, không đồng nghĩa với số tiền các ngân hàng đã cam kết cho vay hay đã giải ngân.
Quy mô nhu cầu vốn nói trên cũng cho thấy sức ép ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng trong việc đáp ứng nguồn vốn cho nền kinh tế, đặc biệt khi các dự án lớn thường có nhu cầu vốn trung và dài hạn. Trong khi đó, thị trường tài chính trong nước vẫn chưa phát triển cân xứng để chia sẻ gánh nặng với tín dụng ngân hàng.

Theo Ngân hàng Nhà nước, huy động vốn của hệ thống tổ chức tín dụng hiện tăng chậm hơn tăng trưởng tín dụng, trong khi nguồn vốn ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu. Ở chiều ngược lại, tín dụng trung và dài hạn có xu hướng tăng, làm gia tăng nguy cơ mất cân đối kỳ hạn và áp lực thanh khoản đối với hệ thống.
Đến ngày 31/7/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Dư nợ doanh nghiệp đạt gần 11 triệu tỷ đồng, tương đương 53,3% tổng dư nợ; trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm hơn 9,1 triệu tỷ đồng, doanh nghiệp nhỏ và vừa hơn 3,9 triệu tỷ đồng.
Áp lực cung ứng vốn còn chịu tác động từ dòng tiền ngân sách. Ngân hàng Nhà nước cho biết tồn ngân quỹ Nhà nước ở mức cao do thu ngân sách tăng khá trong khi giải ngân đầu tư công còn chậm, qua đó làm giảm lượng vốn huy động tại các tổ chức tín dụng và gây thêm sức ép lên thanh khoản cũng như nguồn vốn của hệ thống.
Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng tăng, mặt bằng lãi suất cũng chịu sức ép từ nhu cầu huy động vốn và áp lực lạm phát. Việc duy trì lãi suất ở mức hợp lý vì thế trở thành bài toán cân bằng giữa yêu cầu cung ứng vốn cho tăng trưởng, ổn định thị trường ngoại tệ và kiểm soát lạm phát.
Ngân hàng Nhà nước cho rằng để giảm áp lực lên hệ thống tín dụng, cần tăng khả năng lưu chuyển vốn trong nền kinh tế. Cơ quan này kiến nghị Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đẩy nhanh việc giảm tồn ngân quỹ Nhà nước tại hệ thống ngân hàng, qua đó gia tăng lượng tiền gửi, cải thiện thanh khoản và giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất.
Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước đề xuất nghiên cứu cơ chế bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án đầu tư trọng điểm, quan trọng quốc gia trong phạm vi phù hợp với khung khổ quản lý an toàn nợ công và nợ nước ngoài. Giải pháp này được kỳ vọng giúp các dự án tiếp cận thêm nguồn tài trợ quốc tế, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn huy động trong nước.
Cơ quan quản lý đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công năm 2026, tập trung vào các dự án quan trọng quốc gia và hạ tầng trọng điểm. Song song với đó là tiếp tục phát triển thị trường vốn, đa dạng hóa nguồn lực cho các dự án lớn thông qua trái phiếu Chính phủ, vốn vay nước ngoài và nguồn vốn ODA.
Với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, nhu cầu vốn trong những năm tới được dự báo tiếp tục rất lớn, nhất là tại các lĩnh vực năng lượng, điện, dầu khí, than và hàng không. Ngân hàng Nhà nước cho rằng tín dụng chỉ nên là một trong nhiều kênh huy động, thay vì trở thành nguồn vốn chủ đạo cho các dự án có thời gian thu hồi vốn dài.
Theo đó, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng phương án huy động vốn phù hợp với vòng đời dự án, tăng cường phát hành trái phiếu trong và ngoài nước, đồng thời thu hút FDI và ODA. Việc mở rộng các kênh vốn dài hạn không chỉ giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng mà còn tạo dư địa để tín dụng tập trung nhiều hơn vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Trong bối cảnh tổng nhu cầu vốn của 35 dự án đã lên tới khoảng 1,707 triệu tỷ đồng, bài toán đặt ra không chỉ là làm thế nào để ngân hàng cung ứng đủ tín dụng, mà còn là cách phân bổ và đa dạng hóa nguồn vốn cho nền kinh tế. Việc phối hợp giữa tín dụng ngân hàng, đầu tư công và thị trường vốn sẽ quyết định khả năng đáp ứng nguồn lực cho các dự án quy mô lớn trong thời gian tới.
Vương Anh











