Thứ hai, 04/05/2026, 09:32 (GMT+7)

Sửa Luật Dầu khí để hút vốn: Mở ưu đãi cho mỏ cận biên, năng lượng ngoài khơi

Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) tập trung mở rộng ưu đãi đầu tư nhằm kéo dòng vốn vào mỏ cận biên và khu vực nước sâu, xa bờ. Sau 6 năm “đóng băng”, giai đoạn 2025–2026 đã ký 4 hợp đồng mới, nhưng sức hấp dẫn của ngành vẫn là bài toán chưa có lời giải.

Sửa Luật Dầu khí, mở ưu đãi cho mỏ cận biên, năng lượng ngoài khơi.jpg
Sửa Luật Dầu khí, mở ưu đãi cho mỏ cận biên, năng lượng ngoài khơi.jpg

Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) đang được Chính phủ thúc đẩy trong bối cảnh ngành năng lượng cần một cú hích mới để duy trì đà tăng trưởng và bảo đảm an ninh cung ứng. Trọng tâm lần sửa đổi này không nằm ở kỹ thuật khai thác, mà ở việc thiết kế lại cơ chế ưu đãi đầu tư. Đây là điểm nghẽn lớn nhất trong nhiều năm qua khi dòng vốn quốc tế có xu hướng dịch chuyển. Nếu không thay đổi, khả năng thu hút đầu tư vào các mỏ mới sẽ tiếp tục suy giảm.

Sau gần 3 năm thực thi Luật Dầu khí 2022, một số tín hiệu phục hồi đã xuất hiện. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, sản lượng khai thác bắt đầu tăng trở lại từ năm 2025 sau nhiều năm suy giảm. Trong giai đoạn 2023–2025, Petrovietnam gia tăng trữ lượng 38,8 triệu tấn quy dầu, khai thác 24,89 triệu tấn dầu và 19,83 tỷ m³ khí. Tuy nhiên, phần tăng trưởng này chủ yếu đến từ các mỏ hiện hữu, không phải các phát hiện lớn mới.

Vấn đề cốt lõi nằm ở cấu trúc tài nguyên: phần lớn mỏ mới là mỏ cận biên, trữ lượng nhỏ và chi phí khai thác cao. Hoạt động thăm dò tại vùng nước sâu, xa bờ gặp rủi ro địa chất và yếu tố an ninh. Điều này khiến suất sinh lời giảm, trong khi tiêu chuẩn đầu tư toàn cầu ngày càng khắt khe. Nếu không có ưu đãi đủ mạnh, các dự án mới khó đạt điểm hòa vốn.

Bộ Công Thương thừa nhận, dù đã ký 4 hợp đồng dầu khí mới trong giai đoạn 2025–2026 sau 6 năm “đóng băng”, nhưng tiến độ vẫn chưa tương xứng tiềm năng. Trong cùng giai đoạn, có tới 26 hợp đồng phải gia hạn tìm kiếm thăm dò, phản ánh mức độ thận trọng của nhà đầu tư. Hệ thống pháp lý hiện hành vẫn tồn tại những điểm chưa theo kịp thực tiễn. Đây là khoảng trống cần được lấp đầy bằng cơ chế linh hoạt hơn.

Nghị quyết 81/NQ-CP đã đặt nền tảng với 5 nhóm chính sách, trong đó đáng chú ý là ưu đãi cho mỏ cận biên và các dự án nâng cao hệ số thu hồi dầu. Đây là tín hiệu trực diện tới nhà đầu tư: rủi ro sẽ được chia sẻ ở mức cao hơn. Đồng thời, chính sách cho hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) cũng được bổ sung. Điều này cho thấy định hướng gắn khai thác dầu khí với yêu cầu giảm phát thải.

Một điểm mới đáng chú ý là việc mở rộng phạm vi sang năng lượng ngoài khơi như điện gió, hydrogen và dịch vụ kỹ thuật cao. Dự thảo cho phép phát triển chuỗi giá trị đồng bộ từ thượng nguồn đến hạ nguồn, đồng thời đơn giản hóa thủ tục phê duyệt dự án. Việc miễn, giảm tiền thuê mặt nước và đáy biển cho đường ống dẫn khí là một ưu đãi mang tính chi phí trực tiếp. Đây là yếu tố có thể cải thiện đáng kể hiệu quả tài chính của dự án.

Ở góc độ thị trường, việc sửa luật lần này mang ý nghĩa nhiều hơn một thay đổi kỹ thuật. Nó phản ánh nỗ lực tái định vị Việt Nam trong chuỗi cung ứng năng lượng khu vực. Khi cạnh tranh thu hút vốn ngày càng gay gắt, khung pháp lý trở thành yếu tố quyết định. Một môi trường minh bạch, ổn định và tiệm cận thông lệ quốc tế sẽ là điều kiện cần để giữ chân nhà đầu tư.

Dự kiến, Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội vào tháng 7/2026 và thông qua vào tháng 10/2026. Khoảng thời gian từ nay đến khi luật có hiệu lực là giai đoạn quan sát quan trọng của thị trường. Nếu các chính sách ưu đãi được thiết kế đủ sâu và thực thi nhất quán, dòng vốn có thể quay trở lại. Ngược lại, nếu cải cách dừng ở mức kỹ thuật, cơ hội có thể tiếp tục trôi qua.

Mạnh Huyền

Thứ hai, 04/05/2026, 09:02 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

/ Tin liên quan

/ Nổi bật

/ Mới nhất